Mỹ liệu có mất vị thế trong kinh tế toàn cầu?

10:38 | 26/08/2020

Theo các chuyên gia phân tích, đồng USD đang suy yếu và có khả năng sụt giảm hơn nữa, nhưng tầm quan trọng của nó với thế giới sẽ không vì thế mà giảm sút. Tuy nhiên, hiện nay, việc phục hồi kinh tế của Mỹ đang là một dấu hỏi lớn, bất chấp cả việc đã có những dấu hiệu tích cực trong việc đối phó với dịch bệnh Covid-19. Đồng USD cũng đã có dấu hiệu phản ứng với tình trạng thâm hụt gia tăng của quốc gia.

Chỉ số USD đã giảm xuống mức thấp nhất trong 27 tháng qua vào tuần trước ở mức 92,477, mức giảm mạnh so với mức 102 vào tháng Ba. Kể từ đó, nó đã  dao động giữa mức 92 và 93 trong tuần qua, lần cuối là ở  mức 93,15.

Ảnh minh họa

Theo ông Patrik Schowitz, đại diện của JPMorgan Asset Management, nền kinh tế Mỹ đang có hoạt động vượt trội hơn so với khu vực đồng Euro và Nhật Bản, ít nhất là trong vài năm tới, do tình hình dịch bệnh đang có dấu hiệu chững lại, tuy nhiên khả năng sẽ không còn lâu nữa vì mới đây Liên minh châu Âu đã tung ra Quỹ phục hồi 750 tỷ EUR và nó đang mang lại cho các nhà đầu tư niềm tin hơn vào đồng Euro như một giải pháp thay thế cho đồng USD.

Theo các chuyên gia phân tích của Viện đầu tư BlackRock, USD vẫn sẽ có khả năng suy yếu trong thời gian tới do các nhân tố xấu tác động đến đồng tiền này vẫn đang gia tăng. Tuy nhiên, theo nhà kinh tế học cao cấp của Công ty nghiên cứu Capital Economics, Jonas Goltermann và một số các chuyên gia phân tích lại lập luận rằng những lo ngại gần đây cho rằng đồng USD có thể mất vị thế là đồng tiền dự trữ của thế giới và những ý kiến về sự sụt giảm của đồng USD là quá phóng đại. Theo dữ liệu của Quỹ Tiền tệ quốc tế, tỷ trọng USD trong tổng dự trữ toàn cầu giảm từ 64,7% trong quý đầu tiên của năm 2017 xuống mức 60,9% trong quý cuối năm 2019 và lại lên 62% trong quý đầu tiên của năm 2020. Sự sụt giảm của chỉ số USD kể từ tháng 3 có thể là do các lý do khác ngoài trạng thái dự trữ của tiền tệ, bao gồm lãi suất thấp và các động thái kích thích nền kinh tế của khu vực châu Âu và động thái này đã thúc đẩy một sự thay đổi "đáng kể" đối với đồng euro. Kể từ tháng 6, USD đã mất giá khoảng 6,6% so với đồng Euro.

Trên thực tế, cuộc khủng hoảng coronavirus đã “củng cố” vai trò của đồng USD như một loại tiền tệ toàn cầu quan trọng. Đồng bạc xanh tăng mạnh khi nhu cầu trú ẩn an toàn tăng vọt vào tháng 3 do đại dịch bùng phát ở Mỹ, châu Âu và các nơi khác. Quan trọng hơn là không có đồng tiền nào có khả năng thay thế cho đồng USD. Hai nền kinh tế tiếp theo đó là khu vực đồng Euro và Trung Quốc đều nhỏ hơn Mỹ  và đồng Euro (do nền tảng chính trị vẫn còn mong manh) và đồng nhân dân tệ (do sự kiểm soát vốn của Trung Quốc và hệ thống chính trị đặc thù) vẫn có nhiều thiếu sót để có thể trở thành một đồng tiền mang tính dự trữ, ông Goltermann cho biết thêm.

Theo ông Sven Schubert, Chiến lược gia đầu tư cấp cao tại Vontobel Asset Management có trụ sở tại châu Âu, đồng nhân dân tệ và đồng Euro là hai lựa chọn thay thế khả thi nhất trong những thập kỷ tới. Nhưng cả hai đều chưa phải là “đối thủ cạnh tranh” của đồng USD. Hiện nay khoảng 50% hợp đồng thương mại toàn cầu vẫn được thực hiện bằng USD, mặc dù quốc gia này chỉ chiếm khoảng 12% thương mại toàn cầu. Độ sâu của thị trường tài chính Mỹ là vô song, các ngân hàng trung ương vẫn thích nắm giữ phần lớn dự trữ bằng USD, các mặt hàng chủ chốt trên thế giới được giao dịch bằng USD và hầu hết các hợp đồng thương mại toàn cầu được giao dịch bằng USD và EUR.

Thái Hồng

Nguồn:

Tags: Kinh tế Mỹ

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400