Năm 2020: Kỳ vọng những thành tựu mới

08:55 | 16/12/2019

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có quá nhiều bất định, việc duy trì kinh tế vĩ mô (KTVM) ổn định, lạm phát thấp trong khi vẫn có được tăng trưởng GDP ở mức cao là những điểm nhấn được đại diện các tổ chức quốc tế nêu lên tại buổi gặp mặt cuối năm với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, các TCTD nước ngoài tại Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức cuối tuần qua.

nam 2020 ky vong nhung thanh tuu moi Bảo đảm lưu thông tiền tệ thông suốt dịp cuối năm
nam 2020 ky vong nhung thanh tuu moi Doanh nghiệp cần cách nhìn thân thiện hơn về chính sách
nam 2020 ky vong nhung thanh tuu moi
Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Minh Hưng phát biểu tại buổi gặp mặt

2019 thành công, tạo đà cho 2020 bứt phá

Phát biểu tại sự kiện, ông Francois Painchaud - Đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam đã chúc mừng NHNN và Chính phủ Việt Nam về những thành quả đạt được của năm 2019. “Với những chính sách đúng đắn và quyết liệt của Chính phủ, Việt Nam tiếp tục ghi nhận một năm tăng trưởng toàn diện với KTVM tiếp tục được duy trì trong bối cảnh bất định và căng thẳng thương mại gia tăng. Lạm phát được duy trì ở mức thấp, dự trữ ngoại hối tiếp tục được tăng cường, các gối đệm tài khóa ngày càng tốt hơn. Các chuyển biến khác cũng rất đáng ghi nhận như việc tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập mạnh mẽ hơn, cải cách khu vực công và lĩnh vực tài chính… Đây là những thành quả cho thấy năm 2019 thực sự là một năm thành công đáng ghi nhận và NHNN, Chính phủ nên tự hào vì những việc đã làm được”, ông Francois Painchaud nói.

Từ phía Ngân hàng Thế giới (WB), Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam Ousmane Dione cũng nhấn mạnh 3 điểm mà Chính phủ và NHNN đã đạt được trong năm 2019. Đầu tiên là việc Việt Nam tiếp tục có được ổn định KTVM, lạm phát ở mức thấp, tỷ giá tương đối ổn định, dự trữ ngoại hối tăng, giải ngân vốn FDI đạt kỷ lục (trung bình đạt 1,5 tỷ USD/tháng).

Cùng với đó, xuất khẩu vẫn tốt với mức tăng trưởng cao gấp khoảng 4 lần mức tăng trưởng trung bình của xuất khẩu toàn cầu… “Nền kinh tế tiếp tục cho thấy sự vững vàng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và bất định ngày càng tăng. Trong cập nhật triển vọng kinh tế mới nhất, chúng tôi đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng của Việt Nam từ 6,5% lên khoảng 6,8% cho năm 2019 – và điều này cho thấy Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tăng trưởng cao nhất trong khu vực và thế giới”, ông nói.

Trong lĩnh vực ngân hàng, ông Ousmane Dione rất ấn tượng với những gì đạt được trong năm vừa qua. Những thách thức với hệ thống ngân hàng tiếp tục được giải quyết, từ vấn đề nợ xấu đến xử lý các ngân hàng yếu kém. Hệ thống ngân hàng hiện nay đã có được lợi nhuận, tỷ lệ nợ xấu thấp và về tổng thể, khu vực ngân hàng đã tạo ra một bước ngoặt dù phía trước vẫn còn những thách thức.

Giám đốc WB tại Việt Nam cũng đánh giá cao nỗ lực của NHNN trong dẫn dắt triển khai chương trình nghị sự về tài chính toàn diện, hoàn thành đúng thời gian việc xây dựng Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia. “Để thực sự mang lại lợi ích cho mọi người dân, chúng ta cần hiện thực hóa tầm nhìn, chiến lược và chương trình đề ra. Chúng tôi ủng hộ và cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng NHNN để phát triển tài chính toàn diện tại Việt Nam”, ông cho biết. 

Trong khi đó theo bà Natalia Ansell – Tổng giám đốc Citi Việt Nam, thật không dễ để trong một vài lời nhận xét có thể diễn tả hết được về những thành tựu rất lớn mà kinh tế Việt Nam nói chung, điều hành CSTT nói riêng đạt được trong năm 2019, nhất là đặt trong bối cảnh vô cùng biến động và khó khăn của tình hình thế giới. Một trong số đó là hoạt động điều hành CSTT chủ động cũng như sự quản lý và giám sát hiệu quả hệ thống ngân hàng của NHNN đã đóng góp rất quan trọng giúp cải thiện thứ bậc xếp hạng tín nhiệm của quốc gia như các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đã ghi nhận trong năm 2019.

2020 là năm sẽ phải hết sức nỗ lực

Cảm ơn đại diện các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển và định chế tài chính nước ngoài đã có những nhận xét tích cực về những thành tựu đã đạt được, cũng như các thách thức mà Chính phủ và NHNN cần tập trung giải quyết trong thời gian tới, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cho rằng: “Những thành tựu này sẽ không thể đạt được nếu không có sự hỗ trợ từ tất cả các bạn - các đối tác phát triển, tổ chức quốc tế, đại sứ quán và ngân hàng nước ngoài”.

Nói về điều hành chính sách tiền tệ, Thống đốc cho biết, CSTT đã được triển khai phù hợp và thận trọng. Việc thiết kế và điều hành CSTT cho đến nay là thành công, đóng góp vào mục tiêu xây dựng khung khổ KTVM bền vững cho phát triển cao hơn trong tương lai.

“Chúng ta vui mừng khi thấy rằng, ngành Ngân hàng đã đóng góp quan trọng cho ổn định KTVM và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý. Tỷ giá được giữ ổn định; lãi suất được điều hành phù hợp để hỗ trợ các DN và nền kinh tế; dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng lên mức kỷ lục… là những minh chứng cho thấy sự tin tưởng cao hơn vào các chính sách của Chính phủ và hoạt động điều hành của NHNN, từ đó hỗ trợ các chính sách vĩ mô khác trong thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện năng lực chống chịu và hướng tới đạt được sự phát triển ngày càng bền vững”, Thống đốc Lê Minh Hưng nhấn mạnh.

Những kết quả đáng khích lệ cũng có thể nhìn thấy trong hoạt động tái cấu trúc ngân hàng và xử lý nợ xấu. Theo đó, NHNN đã tiếp tục hoàn thiện các chính sách, cơ chế để hoạt động của các ngân hàng theo hướng thận trọng hơn, phù hợp với các thông lệ quốc tế để quản trị, quản lý rủi ro ngày càng tốt hơn. Thống đốc thông tin, hiện đã có 18 ngân hàng được NHNN phê duyệt áp dụng Thông tư 41/2016/TT-NHNN, trước thời hạn quy định. Tỷ lệ nợ xấu đã giảm đáng kể và được kiểm soát ở mức thấp, trong khi các quy định trong hoạt động ngân hàng đã được tăng cường, qua đó giúp tăng cường niềm tin của công chúng và ổn định hệ thống tài chính ngân hàng.

Năm 2020 đang đến gần với những cơ hội và thách thức mới. Dù tình hình bên ngoài sẽ diễn biến thuận lợi hay khó khăn hơn, Chính phủ vẫn luôn kiên định phải ưu tiên duy trì KTVM ổn định, đẩy mạnh cải cách các lĩnh vực quan trọng và đổi mới mô hình tăng trưởng. 2020 là năm cuối trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020, vì vậy sẽ phải rất nỗ lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra cho giai đoạn này, đồng thời chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo…

Trong nhiệm vụ và chức năng của mình, NHNN sẽ tiếp tục điều hành CSTT một cách thận trọng, linh hoạt và phối hợp tốt với các chính sách vĩ mô khác; giám sát tốt hơn hệ thống ngân hàng để duy trì ổn định tài chính tiền tệ và góp phần cải thiện môi trường kinh doanh. “Trong quá trình này, chúng tôi tin rằng các bạn sẽ tiếp tục chung tay hỗ trợ Chính phủ và NHNN trong chặng đường sắp tới với những thành công mới”, Thống đốc kỳ vọng.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.105 23.285 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.101 23.281 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.100 23.270 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.100 23.270 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.093 23..303 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.050
50.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.050
50.450
Vàng SJC 5c
50.050
50.470
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.500
50.250