Ngân hàng hỗ trợ, doanh nghiệp cũng phải tự thân vận động

09:34 | 19/02/2020

NHNN Việt Nam đã chỉ đạo các vụ cục chức năng xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nếu bị ảnh hưởng do dịch viêm đường hô hấp cấp do virút corona (Covid-19).

Dịch bệnh leo thang, ngân hàng miễn giảm phí dịch vụ
Ngân hàng triển khai nhiều giải pháp chia sẻ khó khăn với người dân, doanh nghiệp

Ngày 21/2 hạn định cuối cùng các TCTD phải báo cáo về hoạt động kinh doanh đối với những khách hàng có sử dụng vốn vay ngân hàng để NHNN có những quyết định chính sách.

Doanh nghiệp cơ cấu lại sản xuất theo hướng bền vững hơn

Ông Nguyễn Đình Tùng - Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) cho biết, cho đến thời điểm này OCB đã tập hợp và phân loại được những nhóm khách hàng vay vốn của ngân hàng bị ảnh hưởng dịch Covid-19 trong ngắn hạn và tác động trong dài hạn.

Thực tế, cách đây 8 năm NHNN đã ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN kéo dài thời gian trả nợ cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng nhưng lâm vào tình trạng tồn kho hàng hóa không tạo ra được dòng tiền trả nợ cho ngân hàng. Quyết định gia hạn nợ năm đó đã góp phần hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp tạm thời chưa phải trả nợ và không bị rơi vào nợ xấu để tiếp tục tìm kiếm thị trường mới tiêu thụ hàng hóa vượt qua khó khăn. 

Nay dịch Covid-19 bùng phát ở Trung Quốc và lan vào Việt Nam đã tác động mạnh đến nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, du lịch, vận tải hành khách… Nhiều doanh nghiệp đang là khách hàng bình thường của ngân hàng, nhưng dịch Covid-19 bùng phát khiến phương án kinh doanh không thực hiện như dự kiến.

Biểu hiện rõ nhất là các hãng hàng không. VietJet Air trong tháng 2/2020 đã giảm giá vé khứ hồi Hà Nội – TP.HCM xuống còn 1 triệu đồng một cặp (giảm ít nhất 30% so với cùng kỳ năm trước), Vietnamairlines vừa báo cáo mỗi tuần sụt giảm doanh thu 250 tỷ đồng do phải dừng các đường bay đến Trung Quốc để phòng ngừa dịch Covid. Lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn cũng trong tình trạng tương tự. Ở các đô thị lớn Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, TP.HCM quán ăn nhà hàng khách vắng tanh, dịch vụ taxi nằm chờ hàng dài ở trung tâm các thành phố…

Theo các chuyên gia, mặc dù trong hoạt động kinh doanh luôn phải có dự phòng rủi ro. Nhưng do phần nhiều các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ, sử dụng nhiều vốn vay ngân hàng, nên mức độ chống chịu trước các rủi ro khách quan như dịch Covid-19 là hạn chế. Bên cạnh đó, không phải lúc nào người kinh doanh cũng có thể dự báo được những tác động từ bên ngoài như thiên tai dịch bệnh…

Chính vì thế các ngân hàng đều phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình hoạt động. Đối với hoạt động tín dụng, theo quy định hiện hành, với mỗi đồng vốn cho vay ra các ngân hàng phải trích lập 0,75% dự phòng rủi ro chung, chưa kể các khoản dự phòng rủi ro cụ thể theo nhóm nợ. Đó là nguồn lực để các ngân hàng xử lý những rủi ro không mong muốn, những rủi ro bất khả kháng liên quan đến hoạt động cho vay.

Trong năm qua nhiều ngân hàng đã trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ các khoản dự phòng chung và dự phòng riêng, đơn cử tại hội nghị tổng kết năm 2019 VietinBank báo cáo tỷ lệ bao phủ nợ xấu trong năm đạt 120% trong khi tỷ lệ này năm 2018 ở mức 93%. Hay như tại Vietcombank, tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên tới 182%...

Mặc dù việc trích lập dự phòng lớn sẽ ảnh hưởng tới doanh thu lợi nhuận của các ngân hàng, nhưng bản thân các ngân hàng cũng thấu hiểu, việc hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn hiện nay cũng là tự cứu chính mình, bởi hiện quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ cộng sinh. Đó chính là lý do mà thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã dùng đủ mọi biện pháp gia hạn nợ, khoanh nợ, đóng lại không trả lãi, miễn lãi để doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời có thể phục hồi sản xuất kinh doanh mới  tạo dòng tiền trả nợ cho ngân hàng.

“Những doanh nghiệp bị ảnh hưởng Covid-19 và NHTM phải xây dựng cho mình một sức đề kháng, đừng nên quá ỉ lại vào các chính sách hỗ trợ của của nhà nước”, theo ông Nguyễn Đình Tùng, quan trọng nhất lúc này là các doanh nghiệp phải tìm được thị trường mới, cơ cấu lại sản xuất kinh doanh theo hướng bền vững hơn và giảm thiểu sự phụ thuộc vào một thị trường, một nhóm hàng nào đó… “Những điều này ngân hàng không thể làm thay doanh nghiệp”, ông Tùng nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm này, giới chuyên gia còn cho rằng, đi đôi với chính sách hỗ trợ, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát để chính sách hỗ trợ đến đúng với những doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn vì dịch bệnh, tránh những trường hợp lợi dụng chính sách để trục lợi.

Thống kê của NHNN Việt Nam, tính đến cuối tháng 11/2019, các TCTD cho vay lĩnh vực thương mại, vận tải và viễn thông xét theo giá trị tuyệt đối có dư nợ gần 2 triệu tỷ đồng trong tổng dư nợ toàn hệ thống hơn 8 triệu tỷ đồng. Trong đó lĩnh vực thương mại có dư nợ hơn 1,7 triệu tỷ đồng, lĩnh vực vận tải viễn thông hơn 223 ngàn tỷ đồng; riêng dư nợ lĩnh vực thương mại có tốc độ tăng cao nhất 14,59%, dư nợ vận tải viễn thông tăng 3,46% so với năm 2018.

Hải Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.460 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.520 23.700 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.400 23.650 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.670 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.490 23.660 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.495 23.680 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.480 23.640 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.520 23.650 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
46.700
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
46.700
47.900
Vàng SJC 5c
46.700
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.200
45.400
Vàng nữ trang 9999
43.900
45.200