Ngân hàng trung ương Trung Quốc sẽ giữ ổn định chính sách

05:58 | 26/07/2021

Việc các ngân hàng ở Trung Quốc giữ nguyên lãi suất cho vay chuẩn là một chỉ báo cho thấy Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đang tiếp tục giữ ổn định chính sách, bất chấp động thái bất ngờ bổ sung thanh khoản cho hệ thống tài chính mới đây.

Giữ nguyên lãi suất

Theo thông báo phát đi từ PBoC, lãi suất cho vay cơ bản (LPR) 1 năm tiếp tục được duy trì ở mức 3,85%, không thay đổi suốt từ tháng 4/2020. LPR 5 năm - lãi suất tham chiếu cho các khoản vay thế chấp - cũng không thay đổi ở mức 4,65%. LPR được xem là chi phí tài trợ chuẩn trên thực tế của Trung Quốc kể từ năm 2019. Các mức lãi suất này do một nhóm 18 ngân hàng quyết định và được báo cáo dưới dạng chênh lệch trên lãi suất của các khoản vay trung hạn của ngân hàng trung ương.

Quyết định này đến sau một tuyên bố từ PBoC rằng động thái bổ sung thanh khoản trước đó không thể hiện sự thay đổi chính sách. Còn nhớ trước đó PBoC đã cắt giảm 0,5 điểm phần trăm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) đối với hầu hết các ngân hàng. Quyết định này có nghĩa là các ngân hàng có thể cho vay nhiều hơn vì họ phải giữ ít tiền mặt hơn khoảng 1 nghìn tỷ nhân dân tệ (154 tỷ USD) trong dự trữ bắt buộc.

ngan hang trung uong trung quoc se giu on dinh chinh sach
PBoC khẳng định, việc cắt giảm RRR không có nghĩa là thay đổi chính sách tiền tệ

Đáng chú ý là mức cắt giảm mạnh hơn dự báo của nhiều nhà kinh tế đã làm dấy lên lo ngại về sự phục hồi đang chững lại của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên trong tuyên bố sau đó, PBoC cho biết, việc cắt giảm RRR không có nghĩa là thay đổi chính sách tiền tệ của Trung Quốc.

“Việc cắt giảm RRR chỉ là một hoạt động thanh khoản tiêu chuẩn sau khi chính sách tiền tệ trở lại bình thường và định hướng chính sách tiền tệ thận trọng không thay đổi”, Sun Guofeng - Trưởng bộ phận chính sách tiền tệ của PBoC cho biết. Trong khi Ruan Jianhong - Trưởng bộ phận thống kê và phân tích của PBoC cũng khẳng định, chính sách tiền tệ sẽ được giữ linh hoạt, có mục tiêu, hợp lý và phù hợp.

Nay với việc giữ ổn định lãi suất cho vay cơ bản cho thấy cả các ngân hàng thương mại lẫn ngân hàng trung ương đều hài lòng với mức thanh khoản liên ngân hàng và sự hỗ trợ tiền tệ như hiện tại, đặc biệt là sau khi dữ liệu kinh tế được công bố trước đó cho thấy sự phục hồi của kinh tế đã trở nên cân bằng hơn trong tháng 6 và Trung Quốc có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng hơn 6% trong năm nay.

Không thay đổi lập trường chính sách

“Điều này củng cố quan điểm của chúng tôi rằng việc cắt giảm RRR trước đó không báo hiệu sự thay đổi trong lập trường chính sách tiền tệ”, Liu Peiqian - Nhà kinh tế tại Natwest Group Plc. cho biết. Trong nửa cuối năm nay “chúng tôi kỳ vọng PBoC sẽ duy trì quan điểm chính sách tiền tệ trung lập và giữ nguyên lãi suất chuẩn khi tốc độ tăng trưởng chậm lại so với tiềm năng dài hạn”.

Trong khi đó David Qu - Nhà kinh tế của Bloomberg Economics cũng cho rằng, sự duy trì ổn định lãi suất cho vay cơ bản của Trung Quốc cho thấy PBoC không muốn nới lỏng mạnh hơn. “Việc cắt giảm trước đó đã làm dấy lên suy đoán rằng LPR cũng có thể được giảm xuống, nhưng chúng tôi đã khẳng định rằng PBoC sẽ không giảm lãi suất khi cân nhắc tới trạng thái phục hồi vững chắc của nền kinh tế”, vị này cho biết.

“LPR ổn định có thể kiềm chế kỳ vọng của thị trường về việc nới lỏng hơn nữa”, Zhou Hao - Chuyên gia kinh tế cấp cao về các thị trường mới nổi tại Commerzbank AG nói. “Chính sách tiền tệ của Trung Quốc vẫn ổn định và khả năng nới lỏng quy mô lớn trong nửa cuối năm là rất thấp”.

Tuy nhiên không ít chuyên gia kinh tế lại tỏ ra thất vọng khi LPR vẫn được duy trì ổn định. “LPR của ngày hôm nay hơi gây thất vọng cho thị trường”, Xing Zhaopeng - Chiến lược gia cấp cao về Trung Quốc tại Australia và New Zealand Banking Group Ltd ở Thượng Hải cho biết. “Các nhà chức trách sẽ tập trung vào việc giảm tổng chi phí tài trợ trong nửa cuối năm. Chúng tôi tin rằng sẽ có nhiều biện pháp nới lỏng hơn sau này…”.

Bên cạnh đó không ít chuyên gia cho rằng, nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng sẽ tăng trong giai đoạn cuối năm khi mà từ nay đến cuối năm sẽ có hàng nghìn tỷ nhân dân tệ dư nợ của các khoản vay mà PBoC tung ra vào năm ngoái để hỗ trợ nền kinh tế sẽ đáo hạn. Bên cạnh đó, các ngân hàng có thể cần thêm vốn trong nửa cuối năm nay nếu họ mua trái phiếu chính phủ dự kiến tung ra thị trường trong thời gian này. Việc bán nợ chính phủ trong nửa đầu năm 2021 diễn ra chậm hơn so với năm ngoái và tốc độ đó sẽ cần tăng lên nếu chính phủ bán toàn bộ 4,5 nghìn tỷ nhân dân tệ nợ chính phủ trong kế hoạch hàng năm.

Bởi vậy các nhà phân tích được trích dẫn trong một bài báo trên trang nhất Tạp chí Chứng khoán Trung Quốc cho rằng, PBoC có thể cắt giảm RRR hơn nữa trong năm nay. Theo họ, động thái như vậy mang ý nghĩa bù đắp nhu cầu thanh khoản hơn là nới lỏng các chính sách.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800