Ngân hàng tung nhiều chiêu hút vốn

10:29 | 15/09/2021

Các ứng dụng gửi tiết kiệm online được nhiều NHTM sử dụng để thu hút tiền gửi trong bối cảnh dịch bệnh

Theo Bản tin thị trường tiền tệ trái phiếu tuần từ 6 - 10/9/2021 của SSI Research, lãi suất huy động giảm nhẹ ở một số ngân hàng thương mại lớn. Khảo sát của phóng viên cũng cho thấy, lãi suất huy động của nhiều ngân hàng đã giảm 0,2-0,5% trong tháng 9.

Đơn cử, hiện TPBank đang áp dụng lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng 5,3%/năm giảm 0,1% so với tháng 8; kỳ hạn 9 tháng giảm từ 6,2%/năm xuống còn 5,7%/năm, kỳ hạn 18 tháng và 36 tháng đồng loạt giảm 0,3%/năm xuống còn 6%/năm. Tại Sacombank, kỳ hạn tiết kiệm 36 tháng giảm từ mức 6,1%/năm xuống còn 5,8%/năm, kỳ hạn 9 tháng giảm còn 4,5%/năm; trong khi các kỳ hạn 1-3 tháng lần lượt giảm 0,2-0,3% so với biểu lãi suất tháng trước, còn tương ứng 2,9% và 3%/năm. Trong khi tại MB, HDBank mức lãi suất các kỳ hạn 1-12 tháng cũng giảm tương ứng 0,25-0,4% so với biểu lãi tháng trước. Hiện lãi suất tiết kiệm các kỳ hạn 1-12 tháng tại ACB dao động từ 3,3-5,9%/năm...

ngan hang tung nhieu chieu hut von
Các ứng dụng gửi tiết kiệm online được nhiều NHTM sử dụng để thu hút tiền gửi trong bối cảnh dịch bệnh

Ở khối các NHTM Nhà nước, ngoài Vietcombank và VietinBank hiện vẫn duy trì biểu lãi suất trong tháng 7 và tháng 8, hai ngân hàng còn lại là Agribank và BIDV cũng đã tiến hành giảm 0,1% lãi suất huy động tại các kỳ hạn dài từ 12-36 tháng, từ 5,6%/năm xuống còn 5,5%/năm.

Nhìn chung hiện mặt bằng lãi suất trên huy động tiết kiệm thị trường có sự phân chia giữa các ngân hàng lớn với các ngân hàng có quy mô nhỏ. Theo đó, hiện lãi suất huy động thấp nhất trên thị trường vẫn là khối các NHTM Nhà nước lớn khi mà lãi suất tiết kiệm cao nhất của các ngân hàng này chỉ là 5,5-5,6%/năm, được trả cho các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Trong khi lãi suất tiết kiệm cao nhất của các ngân hàng cổ phần tư nhân có quy mô lớn vào khoảng 5,8 – 6,2%/năm. Còn với những ngân hàng cổ phần quy mô nhỏ, lãi suất tiết kiệm cao nhất lên tới 6,7-6,8%/năm.

Theo các chuyên gia ngân hàng, đó cũng là điều bình thường bởi các ngân hàng quy mô nhỏ không có nhiều lợi thế về uy tín thương hiệu và mạng lưới như các ngân hàng lớn nên thường phải trả lãi suất cao hơn mới có thể thu hút được tiền gửi.

Dự báo về mặt bằng lãi suất huy động thời gian tới, SSI Research cho biết, mặc dù chênh lệch tiền gửi – tín dụng tiếp tục thu hẹp, tuy nhiên mức chênh lệch này chưa thực sự tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống khi vẫn cao hơn so với giai đoạn trước Covid-19. Do vậy SSI Research kỳ vọng lãi suất huy động vẫn tiếp tục đi ngang, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới.

Đồng tình với nhận định này, một chuyên gia ngân hàng cho biết, hiện thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn rất dồi dào. Nguyên nhân một phần cũng bởi tín dụng vẫn tăng trưởng chậm vì dịch bệnh. Mặt khác việc các ngân hàng thực hiện các hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn với NHNN vừa qua cũng đồng nghĩa với việc có thêm một lượng không nhỏ thanh khoản tiền đồng được bơm ra thị trường. Thanh khoản dồi dào là nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục giảm. Thống kê cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tuần qua giảm nhẹ khoảng 0,021%, kết tuần ở 0,7%/năm cho kỳ hạn qua đêm và 0,84%/năm cho kỳ hạn một tuần.

Ngoài ra, việc các ngân hàng đang giảm mạnh lãi suất cho vay, phí để hỗ trợ doanh nghiệp cũng là nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất huy động có thể sẽ còn giảm trong thời gian tới. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất giảm và đang đứng ở mức rất thấp, để cạnh tranh thu hút tiền gửi, các ngân hàng đã triển khai nhiều dòng sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ huy động và tận dụng các nguồn tiền nhàn rỗi. Theo đó, một số NHTM đưa ra sản phẩm tiết kiệm rút gốc linh hoạt với lãi suất hợp lý.

Theo đó, nhiều ngân hàng đã tặng thêm lãi suất cho những khách hàng trên 50 tuổi hoặc tặng lãi suất cho những khoản tiền gửi lớn. Một số khác vừa phát triển các sản phẩm gửi tiết kiệm trực tuyến. Chẳng hạn, với ứng dụng Savy by TPBank, hiện nay ngân hàng này đã cho phép khách hàng có thể gửi góp từ 30.000 đồng trở lên. Tính đến giữa năm 2021 ứng dụng Savy của TPBank đã thu hút hơn 700.000 người tham gia. Số tiền gửi tiết kiệm online của khách hàng tại Savy lên tới 1.200 tỷ đồng. Lãi suất TPBank trả cho các kỳ hạn gửi tiết kiệm qua ứng dụng Savy dao động từ 3,5% - 7,7%/năm. Người gửi tiền có thể gửi theo tuần, theo tháng hoặc theo năm. Thậm chí ứng dụng Savy by TPBank cũng liên kết với 30 ngân hàng khác, để khách hàng có thể thông qua ứng dụng này lựa chọn ngân hàng trả lãi cao nhất nhằm đầu tư các khoản tiết kiệm của mình.

Đỗ Cường

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000