NHNN sẵn sàng các biện pháp điều hành để hỗ trợ tăng trưởng

17:43 | 02/07/2020

Phát biểu tại hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương hôm nay (2/7), Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Minh Hưng khẳng định, từ nay đến cuối năm 2020, hệ thống ngân hàng và NHNN sẽ bám sát mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ để giữ được ổn định kinh tế vĩ mô nhưng đặt mục tiêu là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

nhnn san sang cac bien phap dieu hanh de ho tro tang truong
Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng phát biểu tại hội nghị - Ảnh: Thống Nhất

Thông tin về công tác điều hành của NHNN trong 6 tháng đầu năm, Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết, NHNN đã chủ động và linh hoạt sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo thanh khoản nền kinh tế và hệ thống ngân hàng, nhưng vẫn duy trì được kiểm soát lạm phát và ổn định môi trường kinh doanh.

Kết quả lạm phát cơ bản 6 tháng đầu năm ở mức 2,81% cho thấy điều hành chính sách tiền tệ rất linh hoạt, góp phần duy trì mức lạm phát bình quân chung khoảng 4,19%. Đây là yếu tố quan trọng để tạo lập nền tảng và duy trì lòng tin của cộng đồng nhà đầu tư trong và ngoài nước vào môi trường và sự ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

Đối với các giải pháp về lãi suất, trong 6 tháng đầu năm, NHNN đã 2 lần liên tục giảm lãi suất điều hành ở mức rất mạnh là 1,5%; kết hợp với đó là chỉ đạo kiên quyết các TCTD tiết giảm chi phí, giảm lợi nhuận cũng như giảm lương thưởng để giảm lãi suất cho vay. Vì vậy, hiện nay mặt bằng lãi suất cho vay đối với nền kinh tế kể cả các khoản vay hiện hữu cũng như các khoản cho vay mới đã được giảm khá mạnh.

Về điều hành tỷ giá, theo Thống đốc, trong 6 tháng đầu năm tỷ giá VNĐ diễn biến khá ổn định, duy trì trong biên độ 0,2-0,3%, và chúng ta đã đạt mức dự trữ ngoại hối cao nhất từ trước tới nay. Việc duy trì ổn định tỷ giá đã đóng góp rất quan trọng vào việc ổn định lạm phát.

“Đây cũng là yếu tố quan trọng để các tổ chức xếp hạng tín nhiệm duy trì mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam, cũng như duy trì lòng tin của các nhà đầu tư, đặc biệt đây cũng là yếu tố để chúng ta thu hút đầu tư, góp phần phục hồi nền kinh tế trong thời gian tới”, Thống đốc lưu ý.

Về tín dụng, mặc dù nhu cầu tín dụng thời gian qua, đặc biệt tháng 4-5 khá yếu nhưng đến nay tín dụng đã tăng trở lại. Đến ngày 29/6 tín dụng tăng 3,26%, là mức tăng khá mạnh bắt đầu từ tháng 5 trở lại đây. Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết thêm, tháng 3 tín dụng mới tăng khoảng 1,13%; tháng 4 tăng 0,12%; nhưng đến tháng 5 đã tăng 0,53% và đến 29/6 thì mức tăng so với tháng 5 là 1,28%.

Ngay từ đầu tháng 7, NHNN đã chủ động điều chỉnh tín dụng hỗ trợ cho tăng trưởng, vì vậy vừa qua đã điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của một loạt NHTM, kể cả NHTM có vốn Nhà nước hay NHTM cổ phần tư nhân, để ngân hàng nào có điều kiện tăng trưởng lành mạnh vào các lĩnh vực phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, thì có thể điều chỉnh tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn so với nhu cầu.

Chia sẻ về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, Thống đốc Lê Minh Hưng cho hay, NHNN đã ban hành Thông tư 01 với các giải pháp rất đột phá về cơ cấu lại nợ, không chuyển nhóm nợ, và trong thời gian cơ cấu lại nợ thì khách hàng vay vốn không phải trả nợ gốc và lãi đến hạn, được miễn giảm lãi và phí cũng như giảm lãi suất. Cùng với đó, NHNN đã tổ chức cho ban lãnh đạo đi đến một loạt các địa phương, các vùng kinh tế trọng điểm, làm việc trực tiếp với các hiệp hội và các TCTD để lắng nghe ý kiến cộng đồng DN và tháo gỡ khó khăn thực tế.

Đến nay các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khoảng gần 260.000 khách hàng, với dư nợ xấp xỉ 180.000 tỷ đồng; miễn giảm và hạ lãi suất cho khoảng 421.000 khách hàng, với dư nợ xấp xỉ 1,3 triệu tỷ đồng; cho vay mới khoảng 1,1 triệu tỷ đồng cho xấp xỉ 240.000 khách hàng, lãi suất thấp hơn từ 0,5-2,5%.

Chia sẻ định hướng điều hành từ nay đến cuối năm, Thống đốc Lê Minh Hưng nhấn mạnh, hệ thống ngân hàng và NHNN khẳng định mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ theo chỉ đạo của Chính phủ là kiểm soát và giữ được ổn định vĩ mô nhưng đặt mục tiêu là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục cam kết cung ứng đầy đủ, kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế, sẽ điều hành tỷ giá ổn định và sẵn sàng các biện pháp cần thiết can thiệp thị trường nếu có các biến động quá mức gây bất ổn vĩ mô.

Bên cạnh đó, NHNN cũng sẽ tiếp tục chỉ đạo các TCTD triệt để tiết giảm chi phí và giảm lợi nhuận để giảm lãi suất cho vay, cũng như đảm bảo an toàn, chất lượng hoạt động của hệ thống các TCTD. Vừa qua làm việc với các địa phương và lắng nghe các kiến nghị, cũng như kiến nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, NHNN sẽ xem xét sớm sửa đổi Thông tư 01 theo hướng gia hạn thời gian cơ cấu lại nợ cho đến cuối năm 2020 cũng như các khoản nợ cho vay mới sau thời điểm Thủ tướng công bố dịch cũng được xem xét để cho phép cơ cấu lại.

“NHNN sẵn sàng tăng hạn mức tín dụng cho các TCTD từ nay đến cuối năm để hỗ trợ tăng trưởng. Trong trường hợp cần thiết theo chỉ đạo của Chính phủ, sẽ có các giải pháp mạnh hơn để tái cấp vốn cho các dự án công trình có tác động lan toả, nhằm hỗ trợ cho các khu vực kinh tế trọng điểm, cũng như hỗ trợ tăng trưởng từ nay đến cuối năm”, Thống đốc nhấn mạnh.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.635 22.855 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.654 22.866 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.000
58.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.000
58.700
Vàng SJC 5c
58.000
58.720
Vàng nhẫn 9999
51.500
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.100
51.900