NHNN sẽ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành

00:03 | 19/06/2022

Ngày 18/6, tại TP.HCM, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tổ chức họp báo thông tin về kết quả điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng nửa đầu năm 2022. Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú chủ trì buổi họp báo và thông tin sẽ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp.    

nhnn se giu nguyen cac muc lai suat dieu hanh
NHNN sẽ giữ nguyên các mức lãi suất điều hành để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất - Ảnh: Thạch Bình

Theo ông Phạm Chí Quang, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN trong các quý còn lại của năm 2022, ngành Ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục giữ ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, cũng như ổn định tỷ giá VND/USD trong cả năm để hỗ trợ doanh nghiệp, phục hồi nền kinh tế. Mặc dù áp lực giữ ổn định thị trường tiền tệ là rất lớn sau động thái tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vào hôm 16/6 (giờ Việt Nam).

FED tăng lãi suất cơ bản thêm 0,75 điểm phần trăm là một thách thức lớn đối với mặt bằng lãi suất và tỷ giá các đồng tiền trên thế giới. Vì đây là lần đầu tiên kể từ năm 1994, cơ quan tiền tệ của Mỹ có động thái tăng mạnh lãi suất như vậy. Các lần trước thường chỉ tăng khoảng 0,25 điểm phần trăm.

“Riêng trong 5 tháng đầu năm 2022 đã có 144 lượt tăng lãi suất của các đồng tiền trên thế giới. Với việc FED tăng lãi suất biên độ lớn như hiện nay, xu hướng này sẽ còn tiếp tục và gây áp lực lên lãi suất đồng tiền của nhiều quốc gia” – ông Quang nhấn mạnh.

Về tỷ giá, theo ông Quang, việc FED tăng lãi suất đồng USD sẽ khiến đồng bạc xanh mạnh lên so với nhiều đồng tiền khác trong rổ tiền tệ quốc tế. Bởi thực tế từ đầu năm đến nay các đồng tiền của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan, Đài Loan, Ả Rập Xê út… đều đã mất giá so với đồng USD và nhiều khả năng sẽ còn tiếp tục chịu áp lực giảm giá.

Riêng với Việt Nam, ông Quang nhận định rằng từ nay đến cuối năm 2022, mặc dù chịu áp lực rất lớn nhưng mặt bằng lãi suất và tỷ giá VND/USD sẽ được hệ thống ngân hàng giữ ở mức ổn định. Trong chừng mực kiểm soát lạm phát ở mức 4%/năm, lãi suất trung bình cả năm 2022 chỉ biến động nhẹ 0,09%, trong khi đó tỷ giá chỉ giảm nhẹ ở mức 0,2%.

Về góc độ cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, thời gian qua có một số đơn vị, doanh nghiệp phản ánh rằng các ngân hàng đang thiếu vốn để cho vay. Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, thực tế này nếu có thì cũng chỉ xảy ra đơn lẻ ở một số địa bàn địa phương, hệ thống ngân hàng vẫn rất sẵn sàng cung ứng đủ nhu cầu vốn hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi.

Theo Phó Thống đốc, điều quan trọng hiện nay là dù áp lực lớn, nhưng ngành Ngân hàng vẫn đang điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, đồng thời sẵn sàng cung ứng đủ nguồn vốn cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế.

“Trong điều hành lãi suất, NHNN sẽ tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện để các TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất - kinh doanh” - Phó Thống đốc Đào Minh Tú nhấn mạnh.

Liên quan đến lĩnh vực xử lý nợ xấu và vận hành sàn mua bán nợ mà báo chí quan tâm, tại buổi họp báo ở TP.HCM, đại diện Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng - NHNN thông tin, tính đến hết tháng 4/2022 tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng ở mức 1,55%. Kết quả này là nỗ lực lớn từ hệ thống TCTD, bởi thời gian qua việc bán đấu giá, thanh lý tài sản đảm bảo không dễ dàng do thị trường bất động sản, du lịch, khách sạn chưa thực sự phục hồi. Riêng về việc triển khai sàn giao dịch mua bán nợ xấu, đại diện Cục Thanh tra giám sát ngân hàng cho biết, hiện VAMC đã và đang tích cực đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin, cập nhật dữ liệu giao dịch để đưa vào vận hành nhanh nhất có thể trong các tháng còn lại của năm 2022.

Thạch Bình

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.090 23.390 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.080 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.100 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.106 23.392 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.105 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.750
Vàng SJC 5c
67.950
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.900
Vàng nữ trang 9999
53.800
54.500