NIM ngân hàng mỏng dần

07:46 | 28/08/2022

Các ngân hàng bắt buộc phải điều chỉnh lại chiến lược quản trị rủi ro, hướng tới việc cải thiện NIM trong trung và dài hạn. Chỉ khi đó mới đảm bảo hoạt động ngân hàng được quản trị tốt, giúp NIM ổn định trong thời gian dài, không lên xuống thất thường theo diễn biến của thị trường.

nim ngan hang mong dan
Chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình

Theo nhận định của SSI, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng có thể chịu áp lực trong thời gian tới. Đâu là nguyên nhân tác động đến NIM của ngân hàng. Việc tỷ lệ NIM mỏng có đáng lo? Các ngân hàng cần phải có giải pháp nào để duy trì khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh? Phóng viên đã trao đổi với chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Vietnam để tìm hiểu thêm về vấn đề này.

Theo ông đâu là nguyên nhân tạo áp lực lên NIM ngân hàng?

NIM của các nhà băng trong thời gian qua có xu hướng giảm do sức ép từ thị trường tiền tệ khi ngân hàng đang phải tăng lãi suất huy động đầu vào nhằm tăng cường huy động vốn từ dân cư để đảm bảo thanh khoản, nhưng lãi suất đầu ra phải duy trì ổn định như hiện tại hoặc không tăng quá nhiều do sức chịu đựng của DN hạn chế sau dịch bệnh. Ngân hàng cũng không thể thay đổi lãi suất theo biên độ mới do đã cam kết với khách hàng. Chi phí vốn tăng lên đã ảnh hưởng trực tiếp đến biên độ lợi nhuận của các nhà băng.

Bên cạnh đó, có thể thấy, các chính sách hỗ trợ DN trong dịch bệnh bắt đầu ngấm vào hệ thống ngân hàng. Đơn cử như chính sách giãn, hoãn, cơ cấu lại khoản nợ đã hết hiệu lực (30/06/2022), hiện đã xuất hiện nhiều DN chưa thể trả nợ do khó khăn sau hai năm dịch bệnh. Tỷ lệ nợ xấu tăng, buộc ngân hàng phải tăng dự phòng bù đắp rủi ro, từ đó tăng chi phí, “ăn mòn” vào lợi nhuận. Bối cảnh trên khiến NIM của ngân hàng đang có xu hướng co lại, mỏng dần so với trước đây.

Đánh giá của ông về triển vọng NIM trong thời gian tới?

Tỷ lệ NIM hợp lý trước tiên phải tính chi phí vốn, chi phí đầu vào, chi phí hoạt động và phải trích đúng, trích đủ dự phòng bù đắp rủi ro để đảm bảo an toàn của hệ thống ngân hàng, nếu không sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định trong trung và dài hạn.

Trong thời gian tới, một thực tế cần nhìn nhận đó là NIM sẽ không thể dày dặn như trước đây. Bởi lẽ, áp lực lên lạm phát hiện rất lớn khiến kỳ vọng lạm phát tăng. Ngân hàng phải duy trì mức lãi suất huy động đủ hấp dẫn trong khi vẫn phải nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp sau đại dịch. Như vậy biên độ NIM sẽ giảm. Ngân hàng phải chấp nhận trong vài tháng tới trước khi sức ép lạm phát giảm nhiệt. Muốn có biên độ lợi nhuận cao hơn trong một vài quý tới thì các rủi ro phải được giải quyết trước.

Tuy nhiên, cũng giống như DN, có ngân hàng hoạt động mạnh, tiềm lực tài chính tốt, nhưng có ngân hàng không được như vậy; và chiến lược quản trị rủi ro của mỗi ngân khác nhau, nên NIM trong thời gian tới cũng có sự phân hoá. Đơn cử như về lãi suất huy động cũng đã có sự khác nhau, có ngân hàng lãi suất huy động cao nhất tới 7-8%/năm nhưng cũng có ngân hàng chỉ từ 5-6%/năm mà vẫn đảm bảo được khả năng thanh khoản, thu hút tiền gửi dân cư, điều đó đã tạo sự khác biệt.

Mặt khác, nhiều ngân hàng với trình độ quản lý, ứng dụng công nghệ khác nhau nên chi phí hoạt động sẽ không giống nhau. Mỗi ngân hàng cũng có chiến lược phòng ngừa rủi ro khác nhau. Nhiều ngân hàng khá thận trọng, đã trích lập dự phòng ngay khi nhận thấy rủi ro tiềm tàng giúp họ quản trị tốt hơn. Vì vậy, NIM của nhóm ngân hàng này có thể ảnh hưởng bởi thị trường chung nhưng sẽ không bị suy giảm quá mạnh so với các ngân hàng khác.

Có giải pháp nào để các ngân hàng duy trì khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh, thưa ông?

Với bối cảnh hiện nay, ngân hàng phải tiếp tục nâng cao khả năng, năng lực quản trị về tài chính… Việc quản trị tốt cũng góp phần giúp ngân hàng tiết giảm chi phí hoạt động, cải thiện NIM. Đi kèm với đó là tái cấu trúc sản phẩm, dịch vụ để tăng thu từ mảng này. Hiện nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh mảng dịch vụ như thanh toán, bảo hiểm… những dịch vụ này phát triển sẽ cải thiện NIM của ngân hàng.

Ngoài ra, cần đẩy mạnh đầu tư công nghệ thông tin, chuyển đổi ngân hàng số, tăng trải nghiệm cho khách hàng… Hoạt động này sẽ mang lại lợi ích lâu dài, giảm bớt chi phí giao dịch cho chính ngân hàng, tăng hiệu quả lợi nhuận biên.

Một điều cần nhấn mạnh lại là các ngân hàng bắt buộc phải điều chỉnh lại chiến lược quản trị rủi ro, hướng tới việc cải thiện NIM trong trung và dài hạn. Chỉ khi đó mới đảm bảo hoạt động ngân hàng được quản trị tốt, giúp NIM ổn định trong thời gian dài, không lên xuống thất thường theo diễn biến của thị trường.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Trang thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450