sn-bac
Chỉ số kinh tế:
Ngày 31/8/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.610 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.380/26.840 đồng/USD. Tháng 7/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; bảy tháng năm 2026 tăng 11,4%, là mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua, tăng ở cả 34 địa phương; số lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Bảy tháng năm 2026 có 187,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5%; 155,3 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39,0% kế hoạch năm và tăng 18,4%; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8%; tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Thu ngân sách Nhà nước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16,0%; chi ngân sách Nhà nước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm và tăng 7,7%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1%; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1%, trong đó xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%; nhập siêu 20,52 tỷ USD; Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 104,7 tỷ USD, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 138,6 tỷ USD. CPI bảy tháng tăng 4,39%; lạm phát cơ bản tăng 4,19%; vận tải hành khách tăng 18,0%; vận tải hàng hóa tăng 14,9%; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

NIM ngân hàng mỏng dần

Quỳnh Trang thực hiện
Quỳnh Trang thực hiện  - 
Các ngân hàng bắt buộc phải điều chỉnh lại chiến lược quản trị rủi ro, hướng tới việc cải thiện NIM trong trung và dài hạn. Chỉ khi đó mới đảm bảo hoạt động ngân hàng được quản trị tốt, giúp NIM ổn định trong thời gian dài, không lên xuống thất thường theo diễn biến của thị trường.
aa
nim ngan hang mong dan
Chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình

Theo nhận định của SSI, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng có thể chịu áp lực trong thời gian tới. Đâu là nguyên nhân tác động đến NIM của ngân hàng. Việc tỷ lệ NIM mỏng có đáng lo? Các ngân hàng cần phải có giải pháp nào để duy trì khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh? Phóng viên đã trao đổi với chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Vietnam để tìm hiểu thêm về vấn đề này.

Theo ông đâu là nguyên nhân tạo áp lực lên NIM ngân hàng?

NIM của các nhà băng trong thời gian qua có xu hướng giảm do sức ép từ thị trường tiền tệ khi ngân hàng đang phải tăng lãi suất huy động đầu vào nhằm tăng cường huy động vốn từ dân cư để đảm bảo thanh khoản, nhưng lãi suất đầu ra phải duy trì ổn định như hiện tại hoặc không tăng quá nhiều do sức chịu đựng của DN hạn chế sau dịch bệnh. Ngân hàng cũng không thể thay đổi lãi suất theo biên độ mới do đã cam kết với khách hàng. Chi phí vốn tăng lên đã ảnh hưởng trực tiếp đến biên độ lợi nhuận của các nhà băng.

Bên cạnh đó, có thể thấy, các chính sách hỗ trợ DN trong dịch bệnh bắt đầu ngấm vào hệ thống ngân hàng. Đơn cử như chính sách giãn, hoãn, cơ cấu lại khoản nợ đã hết hiệu lực (30/06/2022), hiện đã xuất hiện nhiều DN chưa thể trả nợ do khó khăn sau hai năm dịch bệnh. Tỷ lệ nợ xấu tăng, buộc ngân hàng phải tăng dự phòng bù đắp rủi ro, từ đó tăng chi phí, “ăn mòn” vào lợi nhuận. Bối cảnh trên khiến NIM của ngân hàng đang có xu hướng co lại, mỏng dần so với trước đây.

Đánh giá của ông về triển vọng NIM trong thời gian tới?

Tỷ lệ NIM hợp lý trước tiên phải tính chi phí vốn, chi phí đầu vào, chi phí hoạt động và phải trích đúng, trích đủ dự phòng bù đắp rủi ro để đảm bảo an toàn của hệ thống ngân hàng, nếu không sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định trong trung và dài hạn.

Trong thời gian tới, một thực tế cần nhìn nhận đó là NIM sẽ không thể dày dặn như trước đây. Bởi lẽ, áp lực lên lạm phát hiện rất lớn khiến kỳ vọng lạm phát tăng. Ngân hàng phải duy trì mức lãi suất huy động đủ hấp dẫn trong khi vẫn phải nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp sau đại dịch. Như vậy biên độ NIM sẽ giảm. Ngân hàng phải chấp nhận trong vài tháng tới trước khi sức ép lạm phát giảm nhiệt. Muốn có biên độ lợi nhuận cao hơn trong một vài quý tới thì các rủi ro phải được giải quyết trước.

Tuy nhiên, cũng giống như DN, có ngân hàng hoạt động mạnh, tiềm lực tài chính tốt, nhưng có ngân hàng không được như vậy; và chiến lược quản trị rủi ro của mỗi ngân khác nhau, nên NIM trong thời gian tới cũng có sự phân hoá. Đơn cử như về lãi suất huy động cũng đã có sự khác nhau, có ngân hàng lãi suất huy động cao nhất tới 7-8%/năm nhưng cũng có ngân hàng chỉ từ 5-6%/năm mà vẫn đảm bảo được khả năng thanh khoản, thu hút tiền gửi dân cư, điều đó đã tạo sự khác biệt.

Mặt khác, nhiều ngân hàng với trình độ quản lý, ứng dụng công nghệ khác nhau nên chi phí hoạt động sẽ không giống nhau. Mỗi ngân hàng cũng có chiến lược phòng ngừa rủi ro khác nhau. Nhiều ngân hàng khá thận trọng, đã trích lập dự phòng ngay khi nhận thấy rủi ro tiềm tàng giúp họ quản trị tốt hơn. Vì vậy, NIM của nhóm ngân hàng này có thể ảnh hưởng bởi thị trường chung nhưng sẽ không bị suy giảm quá mạnh so với các ngân hàng khác.

Có giải pháp nào để các ngân hàng duy trì khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh, thưa ông?

Với bối cảnh hiện nay, ngân hàng phải tiếp tục nâng cao khả năng, năng lực quản trị về tài chính… Việc quản trị tốt cũng góp phần giúp ngân hàng tiết giảm chi phí hoạt động, cải thiện NIM. Đi kèm với đó là tái cấu trúc sản phẩm, dịch vụ để tăng thu từ mảng này. Hiện nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh mảng dịch vụ như thanh toán, bảo hiểm… những dịch vụ này phát triển sẽ cải thiện NIM của ngân hàng.

Ngoài ra, cần đẩy mạnh đầu tư công nghệ thông tin, chuyển đổi ngân hàng số, tăng trải nghiệm cho khách hàng… Hoạt động này sẽ mang lại lợi ích lâu dài, giảm bớt chi phí giao dịch cho chính ngân hàng, tăng hiệu quả lợi nhuận biên.

Một điều cần nhấn mạnh lại là các ngân hàng bắt buộc phải điều chỉnh lại chiến lược quản trị rủi ro, hướng tới việc cải thiện NIM trong trung và dài hạn. Chỉ khi đó mới đảm bảo hoạt động ngân hàng được quản trị tốt, giúp NIM ổn định trong thời gian dài, không lên xuống thất thường theo diễn biến của thị trường.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Trang thực hiện

Tin liên quan

Tin khác

Từ “công xưởng” đến kiến tạo giá trị: Doanh nghiệp Việt cần xây dựng thương hiệu mạnh

Từ “công xưởng” đến kiến tạo giá trị: Doanh nghiệp Việt cần xây dựng thương hiệu mạnh

Việt Nam đang đứng ở một vị trí khác trong bản đồ sản xuất toàn cầu. Từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào lợi thế chi phí, Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng quốc tế, với sự hiện diện ngày càng sâu của các ngành điện tử, dệt may, da giày, cơ khí, logistics, nông nghiệp công nghệ cao...
Nông sản Đắk Lắk: Từ “vựa hàng” đến trung tâm giá trị toàn cầu

Nông sản Đắk Lắk: Từ “vựa hàng” đến trung tâm giá trị toàn cầu

Cà phê, sầu riêng, hồ tiêu đang tạo dấu ấn ngày càng rõ trên thị trường quốc tế, song để duy trì đà tăng trưởng, nông sản Đắk Lắk cần đi sâu hơn vào chế biến, truy xuất nguồn gốc và xây dựng chuỗi giá trị. Cùng với nỗ lực của doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân, nguồn vốn tín dụng đang được ngành Ngân hàng ưu tiên để hỗ trợ sản xuất, thu mua, chế biến và xuất khẩu.
Không để doanh nghiệp Việt mắc kẹt trong những “ốc đảo công nghệ”

Không để doanh nghiệp Việt mắc kẹt trong những “ốc đảo công nghệ”

Tự động hóa đang đi từ lựa chọn trở thành yêu cầu cấp thiết đối với sản xuất và logistics Việt Nam. Khi chi phí lao động tăng, yêu cầu về chất lượng và tốc độ giao hàng ngày càng cao, doanh nghiệp không thể mãi dựa vào lợi thế nhân công giá rẻ.
Hộ kinh doanh cần gì để mạnh dạn mở rộng quy mô?

Hộ kinh doanh cần gì để mạnh dạn mở rộng quy mô?

Hàng triệu hộ kinh doanh đang tạo việc làm, duy trì sức sống của thị trường và đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, sức chống chịu suy giảm, chi phí tuân thủ cùng áp lực chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu phải có những chính sách hỗ trợ thiết thực hơn, từ thuế, công nghệ đến khả năng tiếp cận tín dụng, qua đó tạo động lực để hộ kinh doanh mạnh dạn đầu tư và mở rộng quy mô.
Có đơn hàng nhưng doanh nghiệp dệt may vẫn chịu sức ép lợi nhuận cuối năm

Có đơn hàng nhưng doanh nghiệp dệt may vẫn chịu sức ép lợi nhuận cuối năm

Đơn hàng năm 2026 về cơ bản vẫn đủ giúp nhiều doanh nghiệp dệt may duy trì sản xuất, song hiệu quả của các đơn hàng mới đang chịu sức ép khi khách hàng yêu cầu giảm giá, rút ngắn thời gian giao hàng, trong khi chi phí đầu vào và logistics khó giảm tương ứng. Trước những tín hiệu chưa rõ ràng về kế hoạch đặt hàng năm 2027, doanh nghiệp đang ưu tiên giữ lao động, kiểm soát chi phí và lựa chọn đơn hàng có giá trị gia tăng cao.
Hồ tiêu Việt Nam: Từ lợi thế sản lượng đến cuộc chơi giá trị

Hồ tiêu Việt Nam: Từ lợi thế sản lượng đến cuộc chơi giá trị

7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu đạt gần 1,1 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2025. Đằng sau con số tăng trưởng là một chuyển động đáng chú ý đó là ngành hồ tiêu Việt Nam đang từng bước rời khỏi tư duy chạy theo sản lượng để chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, chế biến và giá trị gia tăng.
Toyota Việt Nam đầu tư hơn 283 triệu USD hiện đại hóa nhà máy tại Phú Thọ

Toyota Việt Nam đầu tư hơn 283 triệu USD hiện đại hóa nhà máy tại Phú Thọ

Công ty Ô tô Toyota Việt Nam sẽ triển khai dự án hiện đại hóa nhà máy tại Phú Thọ với tổng vốn đầu tư hơn 283 triệu USD, tập trung vào xưởng sơn, xưởng dập, nâng mức độ tự động hóa và chuẩn bị nền tảng sản xuất các mẫu xe CKD mới, trong đó có các dòng xe điện hóa.
SME trước cơ hội mở rộng dư địa tín dụng

SME trước cơ hội mở rộng dư địa tín dụng

Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đang qua giai đoạn thanh lọc mạnh. Nhưng chính quá trình này mở ra cơ hội nhận diện doanh nghiệp khỏe để mở rộng tín dụng an toàn.
SME nên chọn phần mềm theo xu hướng hay theo nhu cầu thực tế?

SME nên chọn phần mềm theo xu hướng hay theo nhu cầu thực tế?

Có một giai đoạn mà đi đâu cũng nghe doanh nghiệp nói về hệ thống hoạch định nguồn lực (ERP), quản trị quan hệ khách hàng (CRM), trí tuệ nhân tạo (AI) hay tự động hóa. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) bắt đầu cảm thấy nếu mình chưa dùng những công cụ đó thì đang “chậm hơn thị trường”. Và rồi không ít doanh nghiệp quyết định đầu tư phần mềm khá nhanh, phần vì kỳ vọng tăng hiệu quả, phần vì sợ bị bỏ lại phía sau.
Hướng tới hạ tầng số tin cậy

Hướng tới hạ tầng số tin cậy

Quá trình cải cách thị trường tài chính đặt ra yêu cầu mới đối với việc xây dựng hạ tầng số tin cậy. Trước yêu cầu đó, VMatrix điều chỉnh định vị, hướng tới phát huy vai trò doanh nghiệp công nghệ chiến lược và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.