OECD: Kinh tế toàn cầu sẽ không suy thoái trong năm tới

07:56 | 25/11/2022

Trong dự báo mới nhất, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ ở mức 2,2% vào năm 2023, đồng thời khuyến nghị chống lạm phát vẫn nên là ưu tiên hàng đầu hiện nay.

Cụ thể trong báo cáo cập nhật triển vọng kinh tế mới nhất, OECD dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ ở mức 3,1% trong năm nay - cao hơn một chút so với dự báo đưa ra vào tháng 9, sau đó giảm mạnh xuống 2,2% vào năm 2023, trước khi tăng tốc lên 2,7% vào năm 2024. "Không dự đoán một cuộc suy thoái sẽ diễn ra nhưng chúng tôi đang dự đoán chắc chắn về một giai đoạn suy yếu rõ rệt", Tổng thư ký OECD Mathias Cormann nói tại cuộc họp báo trình bày triển vọng kinh tế mới nhất của tổ chức này.

Theo ông Mathias Cormann, mặc dù kinh tế toàn cầu sẽ tránh được suy thoái trong năm tới nhưng cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay sẽ gây ra suy giảm kinh tế toàn cầu nghiêm trọng. Tác động của suy giảm này không đồng đều lên các nền kinh tế. Trong đó, châu Âu chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi xung đột tại Ukraine ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và khiến giá năng lượng tăng vọt. OECD dự báo, khu vực đồng Euro sẽ tăng trưởng 3,3% trong năm nay, sau đó giảm xuống 0,5% vào năm 2023 trước khi phục hồi lên mức 1,4% vào năm 2024. Các con số này tốt hơn một chút so với triển vọng tháng 9 của OECD, khi ước tính mức tăng trưởng 3,1% năm nay và 0,3% vào năm 2023.

oecd kinh te toan cau se khong suy thoai trong nam toi
Thành phố Frankfurt, Đức

Trong khu vực đồng Euro, triển vọng với mỗi nền kinh tế thành viên cũng khác nhau. Trong đó, Đức - nền kinh tế đứng đầu khu vực dự báo tăng trưởng GDP giảm 0,3% trong năm tới do ngành công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng từ Nga. Tuy nhiên, mức này vẫn ít nghiêm trọng hơn so với dự báo giảm 0,7% đưa ra vào tháng 9. Với nền kinh tế Pháp, vốn ít phụ thuộc vào khí đốt và dầu mỏ của Nga, dự kiến sẽ tăng 0,6% trong năm tới. Kinh tế Ý dự báo tăng trưởng 0,2%, tức là có thể xảy ra suy giảm trong một vài quý.

Bên ngoài khu vực đồng Euro, nền kinh tế Anh được dự báo giảm 0,4% trong năm tới do cùng lúc phải đối mặt với việc tăng lãi suất, lạm phát tiếp tục gia tăng và niềm tin yếu. Trước đó, OECD dự kiến kinh tế Anh tăng trưởng dương 0,2%. Trong khi đó, kinh tế Hoa Kỳ dự báo có triển vọng tốt hơn, với tốc độ tăng trưởng dự kiến sẽ chậm lại từ 1,8% trong năm nay xuống 0,5% vào năm 2023 trước khi tăng lên 1% vào năm 2024. Trước đó, OECD dự kiến kinh tế Mỹ chỉ tăng trưởng 1,5% trong năm nay và 0,5% trong năm 2023.

Trung Quốc là một trong số ít các nền kinh tế lớn dự kiến sẽ tăng trưởng khá tích cực trong năm tới. Cụ thể, tăng trưởng năm nay dự kiến ở mức 3,3%, sau đó tăng lên 4,6% vào năm 2023 và 4,1% vào năm 2024. Các dự báo này không thay đổi nhiều so với dự báo trước của OECD, ở các mức 3,2% vào năm 2022 và 4,7% vào năm 2023.

Lạm phát trong khu vực OECD được dự báo sẽ vẫn ở mức trên 9% trong năm nay. Tuy nhiên cùng với CSTT thắt chặt hơn phát huy hiệu lực, áp lực về nhu cầu và giá năng lượng giảm bớt, chi phí vận chuyển và thời gian giao hàng tiếp tục bình thường hóa, dự kiến lạm phát sẽ dần điều chỉnh xuống mức 6,6% vào năm 2023 và 5,1% vào năm 2024.

OECD cũng chỉ ra sự “không chắc chắn đáng kể” xung quanh triển vọng mà báo cáo mới nhất đưa ra. Tăng trưởng có thể yếu hơn dự kiến nếu giá năng lượng tiếp tục tăng hoặc nếu nguồn cung cấp năng lượng bị gián đoạn ảnh hưởng đến thị trường điện và khí đốt ở châu Âu và châu Á. Trong khi đó, lãi suất toàn cầu tăng có thể khiến nhiều hộ gia đình, DN và chính phủ chịu áp lực lớn hơn khi gánh nặng trả nợ tăng lên. Các quốc gia có thu nhập thấp sẽ vẫn đặc biệt dễ bị tổn thương do giá lương thực và năng lượng tăng cao, trong khi các điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt hơn có thể làm tăng nguy cơ nợ nần chồng chất hơn nữa.

Trong bối cảnh đó, OECD khuyến nghị một số hành động chính sách mà các chính phủ nên thực hiện để đối phó với khủng hoảng. Theo đó, việc thắt chặt CSTT hơn nữa là cần thiết ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến lớn cũng như ở các nền kinh tế mới nổi để tránh kỳ vọng lạm phát và hạ được lạm phát về lâu dài.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000