PMI tăng tháng thứ ba liên tiếp, cải thiện mạnh nhất kể từ tháng 11/2018

10:23 | 04/05/2021

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của Việt Nam tăng tháng thứ ba liên tiếp, đạt 54,7 điểm trong tháng Tư so với 53,6 điểm trong tháng Ba, theo báo cáo Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của Việt Nam vừa được IHS Markit công bố.

Số liệu mới nhất cho thấy các điều kiện hoạt động của lĩnh vực sản xuất cải thiện đáng kể, và đây là mức cải thiện mạnh nhất kể từ tháng 11/2018.

pmi tang thang thu ba lien tiep dat 547 diem trong thang tu

Lĩnh vực sản xuất tăng trưởng trong tháng Tư với các dấu hiệu cho thấy khách hàng đã sẵn sàng đặt những đơn hàng lớn hơn trước, trong bối cảnh nhu cầu nói chung đã cải thiện và khả năng kiểm soát đại dịch COVID-19 tốt.

Tổng số lượng đơn đặt hàng mới tăng tháng thứ tám liên tiếp với tốc độ tăng nhanh nhất trong gần hai năm rưỡi. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng tiếp tục tăng trong bối cảnh nhu cầu quốc tế cải thiện.

“Có những báo cáo đầy khích lệ rằng khách hàng thường sẵn sàng đặt các đơn hàng lớn với niềm tin mạnh mẽ vào sự bền vững của bức tranh tăng trưởng hiện tại”, Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại IHS Markit, nói.

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng dẫn đến sản lượng sản xuất tăng và tăng trưởng cũng đạt mức nhanh nhất kể từ tháng 11/2018. Các công ty sản xuất hàng hóa tiêu dùng có mức tăng sản lượng mạnh nhất trong số ba lĩnh vực được khảo sát.

Cũng theo IHS Markit, các công ty đã tăng số lượng nhân công để tăng sản lượng. Việc làm đã tăng tháng thứ ba liên tiếp và là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 12/2018. Tuy nhiên, mức tăng năng suất là không đủ để không làm tăng lượng công việc tồn đọng trong 15 tháng do số lượng đơn đặt hàng mới tăng.

Cùng với việc tăng số lượng nhân viên, các công ty cũng tăng mạnh hoạt động mua hàng. Những người trả lời khảo sát cho biết việc tăng mua hàng hóa đầu vào là để vừa đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tăng vừa tăng hàng dự trữ nhằm hỗ trợ cho tăng sản lượng trong các tháng tới.

Kế hoạch tăng dự trữ hàng nhìn chung đã thành công trong tháng Tư, với cả tồn kho hàng mua và hàng thành phẩm đều tăng. Trong cả hai trường hợp, tốc độ tăng là mạnh và nhanh hơn so với cuối quý I.

Theo IHS Markit, có một số dấu hiệu cho thấy mức độ gián đoạn chuỗi cung ứng đã bớt nghiêm trọng trong tháng Tư. Trong khi thời gian giao hàng của nhà cung cấp tiếp tục kéo dài, mức độ suy giảm năng lực của người bán hàng là nhỏ và là nhẹ nhất kể từ tháng 9 năm ngoái. Ở những nơi thời gian giao hàng bị kéo dài, có những báo cáo nhắc đến tình trạng khan hiếm nguồn cung và những khó khăn trong khâu chuyển hàng toàn cầu.

Tình trạng khan hiếm nguồn cung và chi phí vận chuyển tăng tiếp tục làm giá cả đầu vào tăng. Mức độ tăng chi phí vẫn lớn và chỉ chậm hơn một chút so với tháng Ba. Về phần mình, các công ty tăng mạnh giá bán hàng, với tốc độ tăng giá nhanh hơn và trở thành mức nhanh nhất trong gần một thập kỷ.

“Áp lực lạm phát vẫn cao khi giá cả đầu ra tăng với tốc độ nhanh nhất trong gần một thập kỷ. Tuy nhiên, cũng có những dấu hiệu cho thấy mức độ trầm trọng của những khó khăn trong chuỗi cung ứng có thể giảm bớt, và hy vọng điều này sẽ giảm một phần áp lực lên giá cả”, Andrew Harker cho biết.

Kỳ vọng đại dịch COVID-19 sẽ vẫn được kiểm soát dẫn đến nhu cầu tăng và việc đưa ra các dòng sản phẩm mới, đã hỗ trợ niềm tin của các công ty về triển vọng sản lượng trong 12 tháng tới.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: pmi
Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.150 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.945 23.145 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.939 23.149 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.950 23.130 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.950 23.130 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.950 23.162 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.942 23.142 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.950 23.130 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.970 23.130 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.050
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.050
56.400
Vàng SJC 5c
56.050
56.420
Vàng nhẫn 9999
52.300
52.900
Vàng nữ trang 9999
51.900
52.600