Sắc xuân trên buôn làng Kon Tum

11:11 | 15/01/2020

Trở về với Kon Tum, vùng đất nắng gió ân tình giữa mùa Xuân ấm áp và vang vọng của những tiếng cồng chiêng trầm hùng, của tiếng đàn tơ- rưng, krông put dịu ngọt, thiết tha… và cả những tiếng chim rừng lánh lót giữa một màu xanh thẳm của núi rừng rất đỗi bình yên. Kon Tum đây! Vùng non nước cách mạng và cả núi rừng đang dang tay nối mãi bài ca Kết đoàn trong dựng xây, kiến thiết…

Những ngày cuối năm, trong cuộc đối thoại định kỳ với người dân, đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh không giấu được những niềm vui bởi những thành quả mà Đảng bộ giành được những năm qua. Đồng chí cho biết, từ khi thành lập lại tỉnh năm 1991 cho đến nay, mặc dù trong điều kiện kinh tế - xã hội địa phương còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng bộ tỉnh Kon Tum luôn chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên, với mục tiêu tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Đua thuyền truyền thống đầu xuân hàng năm trên sông Đăk Bka

Đột phá trong công tác xây dựng Đảng

Để nhanh chóng đưa những chủ trương của Tỉnh ủy vào cuộc sống của người dân, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng, có tính đột phá về công tác xây dựng Đảng, như Đề án về xóa tình trạng thôn, làng chưa có đảng viên đến năm 2020, tiến tới xóa tình trạng, thôn, làng chưa có tổ chức đảng; Chỉ thị số 10-CT/TU của Tỉnh ủy về “Đẩy mạnh công tác phân công đảng viên phụ trách hộ, nhóm hộ”, đồng thời, chỉ đạo quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về “Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng và tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy cơ sở”. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã điều chuyển, phân công lại nhiệm vụ cho đảng viên, cấp ủy viên; phân công các Tổ Tỉnh ủy viên phụ trách 10 đảng bộ huyện, thành phố, trong đó chú trọng ở những địa bàn có tình hình an ninh chính trị phức tạp, có đông đồng bào theo đạo, những thôn, làng nhiều năm liền không kết nạp được đảng viên hoặc chưa có đảng viên, tổ chức đảng. Đồng thời giới thiệu thôn trưởng, tổ trưởng dân phố là đảng viên, bí thư chi bộ làm thôn trưởng; đổi mới hình thức, nội dung và duy trì nghiêm chế độ sinh hoạt đảng theo Chỉ thị số của Ban Bí thư Trung ương Đảng “ Về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ” và Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương “Về nội dung sinh hoạt chi bộ”.

Những chủ trương, biện pháp đột phá trên đã tạo chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng trong toàn tỉnh. Đến nay, 874/874 thôn, làng đều có tổ chức đảng, đảng viên. Chất lượng tổ chức đảng và đảng viên từng bước được nâng lên; tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh bình quân hằng năm đạt trên 55%; tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm trở lên đạt trên 76%. Hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở vùng sâu, vùng xa như Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Ia H‘Drai, Kon Plông… không ngừng được củng cố vững chắc.

Thực tế ở Kon Tum cho thấy, sự đoàn kết, thống nhất đã góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của một tỉnh miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Nổi bật là phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng tiếp tục được đổi mới, sâu sát và hiệu quả. Việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch của các cấp ủy ngày càng thiết thực, nội dung ngắn gọn; nhiệm vụ, giải pháp cụ thể và tính khả thi cao, dễ thực hiện.

Đổi mới, sáng tạo trong phát triển kinh tế- xã hội

Những kết quả trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đã và đang tác động tích cực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở Kon Tum. Đến nay, hầu hết các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đề ra đã đạt và vượt mức kế hoạch, như tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn tỉnh (GRDP) hằng năm tăng trưởng tương đối khá. Năm 2019, lần đầu tiên thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 3.124 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Theo Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum Nguyễn Văn Hòa, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tăng trưởng khá, thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể.

Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều chủ trương, chính sách mới đầu tư có chiều sâu đã tạo ra bước phát triển vượt bậc, với các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, phù hợp với lợi thế của tỉnh và xu hướng chung của thị trường. Kết quả nổi bật nhất là tỉnh đã thành lập được khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và đẩy nhanh kế hoạch dồn đổi, tích tụ ruộng đất để xây dựng “Cánh đồng lớn” thực hiện phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2017 – 2020, hướng đến năm 2025.

Có thể khẳng định, những mảng vỡ vạc sáng sủa đã hình thành trên vùng đất khó. Những nghị quyết của Đảng bộ tỉnh đã bắt nhịp cùng hơi thở cuộc sống nhân dân, nỗ lực vực dậy một Kon Tum gian nan trong nghèo khó. Tuy còn đó những gian nan, thách thức, nhưng khát vọng đi tới thì chưa bao giờ vơi cạn. Bài toán thoát nghèo ở Kon Tum dường như đã tìm được đáp số với việc xác định được sản phẩm nông - lâm nghiệp chủ lực, tạo những hướng đi mạnh dạn, trở thành giải pháp đột phá không chỉ xóa đói giảm nghèo mà còn tạo cơ hội cho người dân làm giàu.

Và ngày người Kon Tum làm giàu sẽ không còn xa xôi. Tỉnh đã chủ động tích cực triển khai các thỏa thuận, nội dung hợp tác trong khu vực tam giác phát triển Campuchia- Lào- Việt Nam; chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng và trong quan hệ với các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia. Đồng thời, đã tăng cường liên kết phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên, duyên hải Miền Trung và thành phố Hồ Chí Minh. Bức tranh nhà nông ở vùng cao Kon Tum đã bắt mắt bởi những sắc màu ấm khi Kon Tum đã “đi bằng hai chân” – Đó là phát triển đô thị và nâng cao đời sống người miền rừng.

Những thành quả về xây dựng Đảng, về phát triển kinh tế - xã hội của Kon Tum đã đạt được từ sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đến nay đã minh chứng cho các Nghị quyết hợp quy luật, đúng lòng dân của Đảng bộ tỉnh. Tất cả đang đồng lòng kiến thiết, dựng xây vùng đất ngã ba biên giới vững vàng đi tới mùa xuân!

Bài và ảnh Nguyễn Văn Chiến

Nguồn:

Tags: Văn hóa

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000