Tăng tốc để về đích với thành tích cao

14:04 | 03/10/2022

Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, thúc đẩy xuất khẩu, tăng tổng cung và tổng cầu trong nước… là các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh phải triển khai trong quý IV - khoảng thời gian “nước rút” để “về đích” các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội cả năm 2022.

Kinh tế 9 tháng phục hồi mạnh mẽ

Thông tin về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 vừa diễn ra ngày 1/10, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn cho biết, tình hình kinh tế, xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực, phục hồi mạnh và ấn tượng. Đặc biệt là GDP quý III tăng cao, đạt 13,67%, góp phần đưa tăng trưởng 9 tháng đầu năm đạt 8,83% (cao nhất từ năm 2011 đến nay).

Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt trong bối cảnh chịu nhiều sức ép; các cân đối lớn được bảo đảm; thị trường tiền tệ cơ bản ổn định, thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt 94% dự toán, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2021, qua đó tạo dư địa trong điều hành tài khóa, hỗ trợ cho CSTT; an ninh lương thực, năng lượng được bảo đảm; thương mại, dịch vụ đang phục hồi nhanh… Đây là những nền tảng quan trọng để thúc đẩy phục hồi kinh tế và phát triển bền vững, tạo dư địa nguồn lực ứng phó với những rủi ro, thách thức của tình hình thế giới hiện nay.

tang toc de ve dich voi thanh tich cao
9 tháng ước xuất siêu hơn 6,5 tỷ USD

Báo cáo tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, trên cơ sở kết quả 9 tháng đầu năm, dự báo tình hình quý IV, kiến nghị phấn đấu đạt tăng trưởng cả năm khoảng 8%, cao hơn khoảng 1,5-2% so với mục tiêu Quốc hội giao và Chính phủ đề ra (6-6,5%), tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế năm 2023, với hai kịch bản tăng trưởng. Cụ thể, Kịch bản 1: Tăng trưởng kinh tế cả năm khoảng 8%, quý IV cần đạt mức tăng trưởng là 5,9%. Kịch bản 2: Tăng trưởng kinh tế cả năm khoảng 8,2%, quý IV cần đạt mức tăng trưởng là 6,6%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, các thành viên Chính phủ cho rằng, nước ta còn không ít khó khăn, thách thức phải đối mặt thời gian tới. Trong đó nổi lên là: Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn còn tiềm ẩn những rủi ro; việc triển khai Chương trình phục hồi, các chương trình mục tiêu quốc gia, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn do giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cao; tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế ở một số bệnh viện, địa phương chưa được xử lý dứt điểm...

Không thể lơ là, chủ quan

Tại phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nêu rõ: "Những kết quả đạt được là rất tích cực và đáng mừng, song chúng ta không được lơ là, chủ quan; không say sưa với những gì đạt được vì trước mắt chúng ta còn rất nhiều khó khăn, thách thức phải đối mặt, phải xử lý".

Thủ tướng đặc biệt lưu ý quý IV/2022 có ý nghĩa quan trọng, là thời gian “nước rút” để “về đích”. Vì vậy, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương nỗ lực khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức; tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, bám sát tình hình thực tiễn, có giải pháp linh hoạt, phù hợp, sáng tạo, hiệu quả để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh: phải kiên trì và nhất quán thực hiện mục tiêu ưu tiên, xuyên suốt là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng. Theo dõi sát tình hình, diễn biến thế giới, khu vực, chủ động phân tích, dự báo, đề xuất giải pháp kịp thời, phù hợp ứng phó những diễn biến mới phát sinh.

Thực hiện CSTT thận trọng, chắc chắn, chủ động, linh hoạt; phối hợp chặt chẽ, hài hòa với CSTK mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và phối hợp hiệu quả với các chính sách khác. Bảo đảm an ninh, an toàn về tiền tệ, tín dụng, tài chính, nợ công, năng lượng, lương thực, thông tin; tăng cường quản lý, kiểm soát giá cả hàng hóa, dịch vụ thiết yếu trong thời gian tới.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu cần đẩy mạnh hơn nữa trong triển khai hiệu quả các chính sách thuộc Chương trình phục hồi; tiếp tục đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Theo Thủ tướng, việc giải ngân đầu tư công có ý nghĩa quan trọng, vừa tạo công ăn việc làm, tạo dư địa, không gian phát triển mới, tạo sản phẩm xã hội, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, góp phần kiểm soát lạm phát, giảm áp lực lên điều hành CSTT…

Đồng thời, theo dõi sát diễn biến thị trường, kịp thời thực hiện giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu trong nước, ổn định giá cả, không để thiếu hàng, găm hàng, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Điều hành của NHNN hướng đến mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất cho vay

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 9, Phó Thống đốc NHNN Đoàn Thái Sơn đã trả lời các câu hỏi của báo chí về vấn đề điều hành lãi suất đến cuối năm. Phó Thống đốc cho biết, tính từ đầu năm 2022, có 262 lượt tăng lãi suất của NHTW các nước. Điều này cho thấy cuộc chiến chống lạm phát trên toàn thế giới đang diễn ra rất quyết liệt.

Tại Việt Nam, mục tiêu xuyên suốt của Chính phủ và NHNN là điều hành các công cụ để góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định KTVM cũng như hỗ trợ phục hồi kinh tế, đặc biệt ổn định các thị trường, bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng. Thời gian qua, điều hành của NHNN cũng đã bám sát nhằm hướng tới mục tiêu này. Trong tháng 9/2022, NHNN tăng lãi suất điều hành và nâng trần quy định lãi suất tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng nhằm thực hiện nhiệm vụ ưu tiên cho kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm duy trì lãi suất thực dương cho người gửi tiền, để hài hòa lợi ích của các bên tham gia trên thị trường tiền tệ. Đồng thời, việc này cũng tạo điều kiện cho hệ thống NHTM có thể tiếp tục duy trì thu hút tiền gửi và có nguồn tài chính để cho vay, hỗ trợ cho nền kinh tế trong thời gian tới.

Vấn đề bình ổn lãi suất cho vay những tháng cuối năm, Chính phủ đã có chỉ đạo về mặt nguyên tắc, và NHNN sau khi điều chỉnh lãi suất điều hành vừa qua cũng đã tính đến mục tiêu này. Do đó, trong số các mức lãi suất điều chỉnh tăng thì NHNN tăng lãi suất điều hành và trần lãi suất tiền gửi, đồng thời giữ nguyên trần lãi suất cho vay (đối với các lĩnh vực ưu tiên) thể hiện việc điều hành của NHNN đã hướng đến mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất cho vay. Đồng thời, NHNN cũng vận động các tổ chức tín dụng tiếp tục rà soát để tiết giảm các chi phí hoạt động, qua đó tạo điều kiện về mặt tài chính để giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong thời gian tới.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900