Thị trường vàng ngày 15/9: Giảm nhẹ sau phiên hồi phục vượt 1.800 USD/oz

09:27 | 15/09/2021

Giá vàng sáng nay giảm nhẹ, sau phiên hôm qua hồi phục và trở lại trên ngưỡng 1.800 USD/oz do hệ quả trực tiếp từ báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vừa được công bố cho thấy áp lực lạm phát đã giảm trong tháng Tám.

thi truong vang ngay 159 giam nhe sau phien hoi phuc vuot 1800 usdoz Thị trường vàng ngày 14/9: Giảm trước thời điểm lạm phát Mỹ được công bố
thi truong vang ngay 159 giam nhe sau phien hoi phuc vuot 1800 usdoz Thị trường vàng ngày 13/9: Phục hồi sau tuần giảm nhẹ

thi truong vang ngay 159 giam nhe sau phien hoi phuc vuot 1800 usdoz

Tính đến 9h sáng nay (15/9) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 1,5 USD/oz (-0,08%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.803,1 USD/oz, giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.780,6 - 1.809,7 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng 12 giảm 2 USD/oz (-0,11%), hiện niêm yết ở 1.805,1 USD/oz.

Sáng nay giá vàng giảm nhẹ sau khi chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay tăng 0,6%; trong khi giá vàng tương lai tăng 0,7%, trở lại trên ngưỡng 1.800 USD/oz do hệ quả trực tiếp từ báo cáo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vừa được công bố cho thấy áp lực lạm phát đã giảm trong tháng Tám.

Theo báo cáo, chỉ số CPI đã tăng 0,3% so với tháng trước trong tháng Tám, sau khi tăng 0,5% trong tháng Bảy. So với cùng kỳ, CPI tháng Tám tăng 5,3%.

Con số lạm phát tháng Tám như trên là thấp hơn mức dự báo tăng 0,4% của các nhà kinh tế được Wall Street Journal thăm dò trước đó. Tuy nhiên, mức tăng 0,3% rõ ràng cho thấy áp lực lạm phát vẫn ở mức cao nhất trong 10 năm trở lại đây.

Báo cáo này đã gây áp lực và khiến cho bạc xanh giảm nhẹ, với chỉ số đô la Mỹ giảm -0,03% trong phiên hôm qua. Nhưng điều quan trọng hơn là, báo cáo còn "kích hoạt" dự báo của những người tham gia thị trường liên quan đến các động thái trong tương lai của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Cụ thể, nó làm giảm khả năng Fed bắt đầu giảm mua tài sản.

"Vàng đạt mức giá cao nhất trong một tuần vào thứ Ba, khi đồng đô la Mỹ giảm giá do lạm phát tại Mỹ tăng chậm hơn dự kiến, dẫn đến sự không chắc chắn về lộ trình giảm bớt kích thích tiền tệ của Fed", theo Reuters.

Thị trường hiện tin rằng Fed sẽ công bố kế hoạch cắt giảm chương trình mua tài sản vào tháng 11. Trước đó, biểu đồ “dot plot” mới nhất, bao gồm hoặc bổ sung những đánh giá của Fed đối chính sách lãi suất tới năm 2024, sẽ được công bố sau cuộc họp tháng Chín.

"Trong khi một thông báo giảm dần kích thích kinh tế khó có thể xảy ra cho đến cuộc họp của Fed vào tháng 11, thì cuộc họp tháng Chín sẽ đưa ra các dự báo hoặc 'dot plot' cho tới năm 2024, trong đó có thể đề cập hai lần tăng lãi suất trong năm 2023", Suki Cooper, nhà phân tích kim loại quý tại Ngân hàng Standard Chartered, nói với Reuters.

Theo các chuyên gia, các con số lạm phát tháng Tám là một nhân tố thúc đẩy vàng tăng giá. Và với triển vọng tiếp theo của lạm phát, có thể kỳ vọng vàng sẽ tiếp tục tăng trong vài tháng tới.

“CPI đang giảm tốc và điều đó sẽ rất tốt cho vàng trong ngắn hạn, khi lãi suất thực giảm xuống. Sau báo cáo CPI tháng Tám, vàng sẽ có đủ động lực để ổn định trên mức giá 1.800 USD/oz. Nhưng nếu không giữ được ngưỡng quan trọng này, nó có thể giảm mạnh", Ed Moya, chuyên gia phân tích tại OANDA, nhận định.

Trên góc độ kỹ thuật, mức kháng cự gần nhất hiện nay đang ở 1.809 USD/oz, tương đương với mức trung bình động 200 ngày, và tiếp đó là mức trung bình động 100 ngày ở 1815,70 USD/oz. Mức kháng cự gần nhất tại 1.837 USD/oz - mức cao nhất trong ngày 3/9.

Liên quan đến động thái của nhà đầu tư lớn, hôm đầu tuần, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust đã tăng lượng vàng nắm giữ thêm 2,04 tấn, lên 1.000,21 tấn.

thi truong vang ngay 159 giam nhe sau phien hoi phuc vuot 1800 usdoz

Tại thị trường trong nước, tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,65 - 57,35 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 56,65 - 57,37 triệu đồng/lượng, tăng 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua - bán so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP.HCM đang được niêm yết ở 56,60 - 57,80 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội giá vàng DOJI đang được niêm yết ở 56,60 - 57,75 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.665 22.865 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.645 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.880 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.650 22.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.350
57.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.350
57.000
Vàng SJC 5c
56.350
57.020
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000