Thị trường vàng ngày 4/6: Mất mốc 1.900 USD/oz

09:26 | 04/06/2021

Giá vàng lao dốc mạnh và mất mốc 1.900 USD/oz khi bạc xanh khởi sắc, trong bối cảnh dữ liệu cho thấy việc làm khu vực tư nhân tại Mỹ tốt hơn dự kiến...

thi truong vang ngay 46 mat moc 1900 usdoz Thị trường vàng ngày 3/6: "Rập rình" đợi thông tin mới
thi truong vang ngay 46 mat moc 1900 usdoz Thị trường vàng ngày 2/6: Củng cố trước những thông tin trái chiều
thi truong vang ngay 46 mat moc 1900 usdoz

Tính đến 8h30 sáng nay (4/6) theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới giảm 0,3 USD/oz (-0,02%) so với cuối phiên trước, xuống mức 1.870,5 USD/oz, giao dịch trong phiên dao động quanh mức 1.864,4 - 1.906,2 USD/oz.

Trong khi đó, giá vàng hợp đồng tương lai tháng Tám giảm 0,9 USD/oz (-0,05%) so với cuối phiên trước, hiện niêm yết ở mức 1.872,4 USD/oz.

Chốt phiên hôm qua (giờ Mỹ), giá vàng giao ngay giảm 1,9% sau khi rơi xuống mức thấp nhất kể từ ngày 20/5 ở mức 1,864.39 USD/oz; trong khi, giá vàng tương lai mất cũng giảm 1,9%.

Giá vàng lao dốc mạnh và mất mốc 1.900 USD/oz khi bạc xanh khởi sắc, trong bối cảnh dữ liệu cho thấy việc làm khu vực tư nhân tại Mỹ tốt hơn dự kiến, điều này thúc đẩy kỳ vọng rằng số liệu kinh tế mạnh mẽ có thể dẫn đến các cuộc thảo luận về việc thắt chặt chính sách từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).

Báo cáo việc làm khu vực tư nhân được công bố hôm qua cho biết số người lần đầu nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại Mỹ giảm xuống dưới mức 400.000 người trong tuần trước, còn khu vực tư nhân tạo ra thêm nhiều việc làm hơn trong tháng 5/2021, với 978.000 việc làm.

“Chúng ta đang dần thoát khỏi khó khăn, dữ liệu kinh tế đang tốt hơn, mặc dù lạm phát vẫn có thể gây ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực nhưng tình thế đã được cải thiện”, Bob Haberkorn, chiến lược gia thị trường cấp cao tại RJO Futures, nhận định.

Ở góc nhìn của mình, Jim Wyckoff, nhà phân tích cấp cao của Kitco News, cho rằng giá vàng giảm mạnh chỉ phản ánh hành động chốt lời thông thường và đáng chú ý là bạc xanh khởi sắc có thể do diễn biến điều chỉnh sau khi đã giảm quá lâu.

"Điều quan trọng là xu hướng tăng giá của vàng trên biểu đồ hàng ngày vẫn được duy trì vững chắc", Wyckoff nói.

Ông cũng lưu ý báo cáo bảng lương phi nông nghiệp được công bố vào cuối ngày hôm nay là dữ liệu kinh tế quan trọng cần theo dõi, bởi nó sẽ tác động trực tiếp đến thị trường vàng.

Về trung hạn, khó có khả năng giá vàng giảm xuống mức thấp 1.700 USD/oz - mức sàn đã đạt được cách đây vài tháng.

Các chuyên gia phân tích của công ty kim loại quý Degussa cho rằng, với những diễn biến hiện tại, rất có thể lạm phát tăng vọt sẽ trở thành một vấn đề khá nghiêm trọng, đặc biệt là đối với những người điều hành chính sách tiền tệ và các ngân hàng trung ương không thể thắt chặt chính sách tiền tệ khi nợ công trên toàn thế giới hiện đã tăng lên 360% GDP toàn cầu.

Degussa dự báo giá vàng sẽ kết thúc năm ở mức khoảng 2.448 USD/oz và nói rằng: “Trước những bất ổn ngày càng tăng xung quanh các diễn biến kinh tế và tài chính trên thế giới, việc nắm giữ ít nhất một lượng vàng vật chất có ý nghĩa rất lớn”.

Trên góc độ kỹ thuật, các chuyên gia phân tích cho biết vàng vẫn đang ở trong xu hướng tăng dài hạn, với cả giá vàng giao ngay và hợp đồng tương lai đều cao hơn mức trung bình động 200 ngày, và đây cũng là mức hỗ trợ hiện tại.

thi truong vang ngay 46 mat moc 1900 usdoz

Tính đến 9h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 56,45 - 57,10 triệu đồng/lượng, giảm 300 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 250 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội, giá vàng SJC đang được niêm yết ở mức 56,45 - 57,12 triệu đồng/lượng, giảm 300 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 250 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, giá vàng DOJI tại TP. HCM đang được niêm yết ở mức 56,75 - 57,35 triệu đồng/lượng, không đổi so với cuối phiên trước đó.

Tại Hà Nội giá vàng DOJI được niêm yết ở mức 56,40 - 57,00 triệu đồng/lượng, giảm 200 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 250 nghìn đồng/lượng ở giá bán ra so với cuối phiên trước đó.

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.860 23.090 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.890 23.090 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.870 23.090 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.880 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.890 23.070 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.870 23.082 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.831 23.051 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.870 23.050 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.890 23.050 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.150
56.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.150
56.750
Vàng SJC 5c
56.150
56.770
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.150
Vàng nữ trang 9999
51.150
51.850