Thúc đẩy kinh doanh, nâng cao hiệu quả thị trường

07:58 | 08/12/2022

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nguy cơ suy thoái, sự phục hồi tăng trưởng và hiệu quả thị trường của Việt Nam cũng gặp thách thức nghiêm trọng. Đẩy mạnh cải cách thể chế, mở rộng quyền tự do kinh doanh, nâng cao hiệu quả thị trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới phát triển bền vững, vì vậy đang là yêu cầu cấp thiết hiện nay, theo các chuyên gia.

thuc day kinh doanh nang cao hieu qua thi truong Doanh nghiệp “dè dặt” với kế hoạch kinh doanh năm 2023

Thịnh vượng gắn liền với cải cách

Chia sẻ tại Hội thảo “Thúc đẩy tự do kinh doanh và nâng cao hiệu quả thị trường” do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VERP) phối hợp với Viện Friedrich Naumann Foundation (FNF) tổ chức ngày 6/12, GS. Andreas Stoffers - Giám đốc Quốc gia FNF Việt Nam bày tỏ ấn tượng với quá trình phục hồi của Việt Nam khi đồng thời duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng ấn tượng.

“Kiểm soát dịch bệnh tốt, có các cam kết rõ ràng đối với tự do hóa thương mại, môi trường kinh doanh thuận lợi so với các quốc gia khác chính là những yếu tố góp phần giúp Việt Nam đạt được thành quả này”, GS. Andreas Stoffers nhận định và cho rằng, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang đứng trước rủi ro suy giảm và nhiều bất định, điều quan trọng là cần tiếp tục tạo ra được môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa thông qua đẩy mạnh cải cách để vượt qua được các thách thức, khó khăn hiện nay.

Cùng quan điểm, ông Fred McMahon, Chủ trì nghiên cứu về tự do kinh tế tại Viện Fraser, Canada (tổ chức này hàng năm có công bố báo cáo xếp hạng mức độ Tự do kinh tế thế giới) nhấn mạnh, trong 20 năm qua, việc tăng trưởng bình quân đầu người của Việt Nam đạt 190% là thành quả rất tích cực và đáng ngưỡng mộ. Nhưng để tiếp tục duy trì tăng trưởng nhanh trong bối cảnh đã thịnh vượng hơn đối với Việt Nam sẽ là không dễ dàng.

“Cách để nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh và trở nên cạnh tranh hơn trong tương lai là cần phải đẩy mạnh các cải cách thị trường; tự do kinh doanh và hiệu quả thị trường phải được nâng cao hơn”, ông Fred McMahon nói.

Theo chuyên gia này, tự do kinh doanh (kinh tế) phải gắn liền với xã hội lành mạnh hơn, môi trường trong sạch hơn, GDP bình quân đầu người cao hơn, phát triển con người, dân chủ và xóa đói giảm nghèo bền vững hơn.

thuc day kinh doanh nang cao hieu qua thi truong
Trình độ phát triển thị trường theo xếp hạng tự do kinh tế của tổ chức Heritage Foundation.

Thực tế theo bảng xếp hạng tự do kinh tế toàn cầu của Viện Fraser, Việt Nam luôn nằm trong tốp dưới trong số 165 nền kinh tế được đánh giá. Cụ thể, năm 2010 đạt 5,9 điểm và thứ hạng 128; năm 2015 đạt 6,04 điểm với thứ hạng 126. Mới nhất, năm 2022, Việt Nam xếp thứ 113/165 nền kinh tế, với 6,42 điểm (thang điểm 10).

“Tin xấu thì đây là một thứ hạng rất thấp, nhưng tin tốt thì đó chính là dư địa để Việt Nam cải cách mạnh hơn nữa để thúc đẩy tự do kinh tế, qua đó có được tăng trưởng nhanh và thịnh vượng, cạnh tranh hơn”, chuyên gia này tin tưởng.

Thắp lại động lực cải cách

Mặc dù từ năm 2014, cùng với sự ra đời của Nghị quyết 19 (nay là Nghị quyết 02) của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, Việt Nam đã xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hướng tới phát triển bền vững là một trọng tâm cải cách quan trọng, thường xuyên. Qua 8 năm nỗ lực cải cách, vị trí của Việt Nam trên các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu đã được “thăng hạng"; thứ hạng môi trường kinh doanh, chỉ số đổi mới sáng tạo, quyền tự do kinh doanh… đều có nhiều cải thiện.

Tuy nhiên theo PGS. TS. Nguyễn Anh Thu, Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, ở thời điểm hiện tại, khi mà các bất ổn toàn cầu kèm theo nguy cơ suy thoái kinh tế hiện hữu thì sự phục hồi tăng trưởng và hiệu quả thị trường của Việt Nam cũng gặp thách thức nghiêm trọng.

“Đây là thời điểm rất quan trọng để đánh giá lại các thách thức toàn cầu và khu vực châu Á nói chung và đối với quyền tự do kinh doanh và các cải cách thể chế của Việt Nam nói riêng”, bà Nguyễn Anh Thu nói.

TS. Nguyễn Minh Thảo - Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, CIEM cũng cho rằng, sau những cải thiện mạnh mẽ nhờ sự quyết liệt của Chính phủ trong những năm gần đây, đặc biệt giai đoạn 2017-2019, thì từ năm 2020 đến nay, việc cải cách chậm chuyển biến, có dấu hiệu chững lại.

Ông cũng dẫn chiếu đến một số vấn đề thực tiễn trong nước để cho thấy sự “chững lại” này. Theo đó, vẫn còn nhiều điều kiện kinh doanh quy định chung chung, thiếu rõ ràng, khó xác định, thiếu cơ sở khoa học hoặc không cần thiết; thiếu cơ sở dữ liệu và chậm áp dụng các thủ tục trực tuyến. Cải cách, thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại đã đạt kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều bất cập, chưa theo thông lệ quốc tế. Còn những chồng chéo, mâu thuẫn trong các quy định tồn tại nhiều năm, cản trở thu hút đầu tư (nhiều nhất trong lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng). Thiếu cơ chế điều phối để nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi quy định theo hướng đảm bảo thống nhất trong thực hiện các thủ tục. Thực tiễn thực thi và cảm nhận của doanh nghiệp về hiệu quả cải cách điều kiện kinh doanh còn hạn chế; còn khoảng cách giữa quy định và thực thi…

Từ thực trạng nêu trên, TS. Thảo khuyến nghị, tới đây cần tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp về cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó chú trọng đến cải cách thực chất ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh; coi trọng cải cách, đơn giản hoá, tạo sự minh bạch trong quy định, thủ tục; đảm bảo tính an toàn của môi trường kinh doanh, nhất là duy trì sự ổn định của chính sách. Tiếp tục các giải pháp thúc đẩy thương mại phù hợp với thông lệ quốc tế tốt và yêu cầu của các FTA, chú trọng vào cải cách kiểm tra chất lượng và quản lý chuyên ngành. Triển khai các giải pháp khắc phục bất cập do mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định pháp luật, đồng thời đẩy mạnh xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, triển khai triệt để dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4. Bên cạnh đó, cần thực hiện hiệu quả các hoạt động đối thoại với doanh nghiệp, huy động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào xây dựng chính sách; bám sát các chỉ số quốc tế có uy tín để nhận diện khoảng cách, vấn đề, bài học và tạo áp lực, động lực cải thiện từ bên trong.

TS. Cấn Văn Lực, Kinh tế trưởng của BIDV: “Để thúc đẩy tự do kinh doanh, nâng cao hiệu quả thị trường, tôi chỉ mong muốn 3 yếu tố cần cải thiện: 1/ Môi trường công bằng hơn giữa các khối doanh nghiệp; 2/ Có giải pháp để các hộ kinh doanh tự do kinh doanh, mong muốn được nâng cấp lên doanh nghiệp nhỏ và vừa; 3/ Có các cơ chế, chính sách hỗ trợ tốt hơn nữa cho khu vực kinh tế tư nhân”.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.430 23.800 24.662 26.042 27.702 28.883 175,33 185,62
BIDV 23.490 23.790 24.859 26.062 27.830 28.912 173.60 182.70
VietinBank 23.400 23.800 24.488 26.123 28.168 29.178 176,97 184,92
Agribank 23.440 23.800 24.910 26.057 27.948 28.857 177,53 185,26
Eximbank 23.410 23.750 24.970 25.647 28.029 28.789 177,36 182,17
ACB 23.400 23.800 25.009 25.606 28.028 28.765 177,51 181,93
Sacombank 23.470 23.870 25.080 25.687 28.247 28.862 177,80 183,35
Techcombank 23.430 23.790 24.760 26.090 27.766 29.067 173,38 185,81
LienVietPostBank 23.430 24.100 24.880 26.235 28.154 29.108 176,00 187,77
DongA Bank 23.480 23.790 24.980 25.620 28.050 28.760 176,5 182,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.400
Vàng SJC 5c
66.600
67.420
Vàng nhẫn 9999
54.000
54.950
Vàng nữ trang 9999
53.750
54.550