Chỉ số kinh tế:
Ngày 31/12/2025, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.121 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.918/26.330 đồng/USD. Tháng 11/2025, Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, IIP tăng 2,3% so với tháng trước và 10,8% so với cùng kỳ; lao động trong doanh nghiệp công nghiệp tăng 1%. Cả nước có 15,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, 9,7 nghìn doanh nghiệp quay lại, trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng, chờ giải thể và giải thể lần lượt là 4.859; 6.668 và 4.022. Đầu tư công ước đạt 97,5 nghìn tỷ đồng; vốn FDI đăng ký 33,69 tỷ USD, thực hiện 23,6 tỷ USD; đầu tư ra nước ngoài đạt 1,1 tỷ USD. Thu ngân sách 201,5 nghìn tỷ đồng, chi 213,3 nghìn tỷ đồng. Tổng bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng đạt 601,2 nghìn tỷ đồng, tăng 7,1%. Xuất nhập khẩu đạt 77,06 tỷ USD, xuất siêu 1,09 tỷ USD. CPI tăng 0,45%. Vận tải hành khách đạt 565,7 triệu lượt, hàng hóa 278,6 triệu tấn; khách quốc tế gần 1,98 triệu lượt, tăng 14,2%.
tet-duong-lich

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Từ tháng 9/1945, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều phương án để vãn hồi sự hiện diện của mình trên bán đảo Đông Dương, trong đó có việc dùng ảnh hưởng và hình ảnh của Hoàng đế vừa thoái vị là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) làm công cụ để đối đầu với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã nhận lời làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên khó có thể tiếp cận để đạt được mục đích trên. Tháng 3/1946, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bỏ trốn và ở lại Hồng - Kông.
aa

Tháng 12/1947, thực dân Pháp đưa Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (Bảo Đại) về nước sau khi đã chấp thuận điều kiện của Vĩnh Thụy là thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp.

Kể từ khi cuộc xâm lược bắt đầu, đặc quyền phát hành giấy bạc tại Nam Kỳ đã được giao cho Ngân hàng Đông Dương theo sắc lệnh ngày 21/01/1875. Theo hai sắc lệnh ký ngày 20/02/1888 và 06/5/1900, đặc quyền này được tiếp tục gia hạn và mở rộng cho cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ và AiLao. Đạo luật ký ngày 31/3/1931 lại tái cấp đặc quyền trong thời hạn 25 năm cho đến 31/3/1956. Sắc lệnh ngày 28/12/1951 lại chuyển giao việc phát hành tiền cho Viện Phát hành các quốc gia liên kết Việt Nam, Lào, Campuchia (gọi tắt là Viện Phát hành).

Cuối tháng 9/1948, Hội nghị PAUL được tổ chức tại PAUL, Pháp với các đại diện của Pháp và Việt Nam - Lào - Campuchia. Chính phủ Pháp ký kết hiệp ước với ba nước Đông Dương để công nhận quy chế các Quốc gia liên hiệp, hiệp ước ký với Việt Nam ngày 08/3/1949 có một số nguyên tắc liên quan đến vấn đề tiền tệ:

“Nước Việt Nam sẽ ở trong khối Liên hiệp tiền tệ với các nước khác tại Đông Dương; tiền tệ duy nhất được lưu hành trên lãnh thổ khối Liên hiệp tiền tệ này sẽ là đồng bạc do Viện phát hành phát ra”.

“Đồng bạc Đông Dương sẽ nằm trong khu vực đồng Phật-lăng (Franc Pháp). Sự bình giá giữa đồng bạc và đồng Phật-lăng không hẳn cố định và có thể thay đổi tuỳ theo điều kiện kinh tế. Tuy nhiên sự bình giá đó chỉ có thể thay đổi sau khi được tham khảo ý kiến của các quốc gia tại Đông Dương”.

Kết quả là quyền phát hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương bị thu hồi và tới năm 1952 trao lại Viện Phát hành được đặt dưới sự kiểm soát của Pháp.

Tiền tệ Liên minh ba nước Đông Dương ở Việt Nam (do Chính quyền Bảo Đại phát hành), ngoài tiền kim loại (10 xu, 20 xu và 50 xu) còn có tiền giấy, gồm hai bộ tiền với các mệnh giá 1 piastre, 5 piastres, 10 piastres, 100 piastres và 200 piastres, được phát hành từ năm 1952 đến năm 1955.

Chữ ký trên tiền trong giai đoạn này như sau:

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I
Ảnh 2.3.94. Tiền giấy 1 piastre, 1953
Tiền giấy 1 piastre, 1953
Ảnh 2.3.95. Tiền giấy 1 piastre, mẫu 1, 1953 (Phát hành tại Việt Nam)
Tiền giấy 1 piastre, mẫu 1, 1953 (Phát hành tại Việt Nam)
Ảnh 2.3.96. Tiền giấy 1 piastre, mẫu 1, 1953 (Phát hành tại Lào)
Tiền giấy 1 piastre, mẫu 1, 1953 (Phát hành tại Lào)
Ảnh 2.3.97. Tiền giấy 1 piastre, mẫu 1, 1953 (Phát hành tại Campuchia)
Tiền giấy 1 piastre, mẫu 1, 1953 (Phát hành tại Campuchia)

Tiền giấy 1 piastre (Một đồng) : Hình chữ nhật, kích thước 127 x 81 mm, in nhiều màu, phát hành toàn Đông Dương năm 1953. Họa tiết giống tờ 1 piastre phát hành đợt 2, kỳ 3 (1932 - 1936) nêu ở phần trên, chỉ khác dòng chữ “Banque de l’ Indochine”(Ngân hàng Đông Dương) được đổi thành dòng chữ “Institut d’emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam” (Viện Phát hành của Liên bang Campuchia, Lào và Việt Nam).

Ngoài ra còn có hai mẫu tiền 1 piastre:

Ảnh 2.3.98. Tiền giấy 1 piastre, mẫu 2, 1954 (Phát hành tại Việt Nam)
Tiền giấy 1 piastre, mẫu 2, 1954 (Phát hành tại Việt Nam)
Ảnh 2.3.99. Tiền giấy 1 piastre, mẫu 2, 1954 (Phát hành tại Campuchia)
Tiền giấy 1 piastre, mẫu 2, 1954 (Phát hành tại Campuchia)

Mẫu tiền thứ nhất (Giấy một đồng): Kích thước 100 x 60 mm, được in tại Pháp, màu vàng, hồng và xanh lá, phát hành riêng cho ba nước năm 1953, mặt trước in hình chân dung người đứng đầu Chính phủ các nước (Việt Nam là chân dung Quốc trưởng Bảo Đại; Lào là Quốc vương Sisavang Vong và Campuchia là Quốc vương Shihanouk). Mặt sau in hình hoa văn và tên Viện Phát hành tương ứng với từng nước.

Ảnh 2.3.100. Tiền giấy 1 piastre, mẫu 2,1954 (Phát hành tại Lào)
Tiền giấy 1 piastre, mẫu 2,1954 (Phát hành tại Lào)

Mẫu tiền thứ hai (Một đồng): Kích thước 127 x 80 mm, được in tại Pháp, màu xanh lá cây, màu hồng đỏ, phát hành năm 1954. Mặt trước in hình ảnh 2 cây thốt nốt và rừng xanh. Mặt sau in hình ảnh tương ứng với nước phát hành (Việt Nam là hình tượng Kỳ lân đá trong Điện Thái Hòa của kinh đô Huế, Campuchia là hình Nhà thủy tạ, Lào là hình chùa ở Luang Prabang).

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 3 (1942 - 1944) Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1 Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2
Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta gồm ba nước là Mỹ, Anh và Liên Xô, ngày 13/9/1945, quân đồng minh Anh tiến vào tiếp quản Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiếp tục được vũ trang, giải giáp quân Nhật và sau đó mở rộng đánh chiếm lại Nam Kỳ, khôi phục lại chế độ thực dân cai trị tại miền Nam Việt Nam. Ngân hàng Đông Dương cũng khôi phục lại việc phát hành tiền và lưu thông trong vùng chiếm đóng.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta gồm ba nước là Mỹ, Anh và Liên Xô, ngày 13/9/1945, quân đồng minh Anh tiến vào tiếp quản Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiếp tục được vũ trang, giải giáp quân Nhật và sau đó mở rộng đánh chiếm lại Nam Kỳ, khôi phục lại chế độ thực dân cai trị tại miền Nam Việt Nam. Ngân hàng Đông Dương cũng khôi phục lại việc phát hành tiền và lưu thông trong vùng chiếm đóng.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1942 - 1951

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1942 - 1951

Tháng 7 năm 1941, Hiệp ước Pháp - Nhật ký kết mở cửa cho quân đội Phát xít Nhật tràn vào Đông Dương. Dưới sự kiểm soát của quân Nhật, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux tiếp tục cho in và phát hành tiền, chủ yếu phục vụ bộ máy cai trị tại chỗ của quân Phát xít Nhật, gồm các mệnh giá sau: 1 piastre (giấy một đồng vàng), 5 piastres (giấy năm đồng vàng), 20 piastres (giấy hai chục đồng vàng), 100 piastres (Một trăm đồng vàng), 500 piastres (giấy năm trăm đồng vàng). Lúc này giao thông trên thế giới bị ngăn trở do Chiến tranh thế giới thứ hai, nên các loại giấy bạc thời kỳ này được họa sỹ Việt Nam thiết kế (Trần Tấn Lộc và Phạm Ngọc Khuê) và tiếp tục in ở Nhà in Viễn Đông (IDÉO) tại Hà Nội. Chất lượng giấy in tiền cũng là loại giấy nội hóa.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 3 (1942 - 1944)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 3 (1942 - 1944)

Ngân hàng Đông Dương tiếp tục phát hành ba mẫu cũ, nhưng có thay đổi chữ ký của Tổng thủ quỹ và Giám đốc tài chính. Tiền kỳ này có chữ ký Le Trésorier General: Louis MAYER góc dưới bên trái tờ tiền và Le Derecteur des Finances: Jean COUSIN góc dưới bên phải tờ tiền. Bên cạnh đó, Ngân hàng Đông Dương còn phát hành thêm 4 loại tiền mới gồm: Tờ 5 cents (năm xu), tờ 10 cents (một hào), tờ 20 cents (hai hào) và tờ 50 cents (năm hào).
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 2 (1942)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 2 (1942)

Ngân hàng Đông Dương phát hành thêm tiền 10, 20 và 50 cents, hình thức và màu sắc giống kỳ 1 (1940) nhưng thay chữ ký Louis Mayer và Yves Cazaux. Các tờ đều màu nâu đỏ, hình chữ nhật, phát hành toàn Đông Dương.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 1 (1940)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 1 (1940)

Từ năm 1940, chính phủ Vichy (Pháp) do Thống chế Philippe Pétain đứng đầu cho phép Ngân hàng Đông Dương phát hành những loại tiền hào mệnh giá nhỏ (1 hào=10 xu).
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 4 (1936-1939)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 4 (1936-1939)

Trong kỳ phát hành này, Ngân hàng Đông Dương tiếp tục in các mệnh giá của kỳ 3 nhưng thay đổi chữ ký, đồng thời bổ sung hai mệnh giá mới là 20 piastres và 500 piastres. Các tờ tiền 1, 5 và 100 piastres có hình thức, màu sắc và bố cục tương tự các kỳ trước, chỉ khác chữ ký. Riêng tờ 20 piastres và 500 piastres có thiết kế nổi bật với khung nền “BANQUE DE L’INDOCHINE”, hình Marianne, Angkor Wat, quả địa cầu và voi, phát hành lưu hành trên toàn Đông Dương.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 3 (1932 -1936)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939: Phát hành kỳ 3 (1932 -1936)

Năm 1930, cuộc khủng hoảng kinh tế giai đoạn 1929-1933 tại các nước tư bản chủ nghĩa đã lan sang các thuộc địa, nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trầm trọng do nền kinh tế của nước thuộc địa phụ thuộc vào kinh tế của chính quốc là nước Pháp. Thực dân Pháp đã thi hành một loạt biện pháp kinh tế - tài chính như: rút vốn đầu tư về các ngân hàng Pháp, dùng tiền của ngân sách Đông Dương trợ cấp cho các công ty tư bản đang có nguy cơ bị phá sản… Trước tình hình đó, Ngân hàng Đông Dương phải phát hành thêm năm mẫu giấy bạc mới. Các đồng tiền phát hành dù vẫn được đảm bảo bằng vàng dự trữ trong ngân hàng, nhưng giá trị thực của nó không còn được như trước.