Chỉ số kinh tế:
Ngày 19/1/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.132 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.926/26.338 đồng/USD. Tháng 12/2025, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng trước và 71,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, cán cân thương mại nhập siêu 0,66 tỷ USD. CPI tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ. Khách quốc tế đến Việt Nam hơn 2 triệu lượt, tăng 15,7%.
dai-hoi-dang

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ II

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Cũng trong tháng 10 năm 1945, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tập trung một số họa sĩ (Nguyễn Huyến, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng, Lê Phả…) bắt đầu vẽ và in những tờ giấy bạc Việt Nam đầu tiên. Sau đó, các loại giấy bạc mệnh giá 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng được in ấn và phát hành từ năm 1945 đến năm 1951.
aa
Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền giấy: Kỳ I
Ảnh 3.1.8. Giấy bạc 1 đồng (Mẫu 1)
Giấy bạc 1 đồng (Mẫu 1)
Ảnh 3.1.9. Giấy bạc 1 đồng (Mẫu 2) (họa tiết mặt sau giống tia nắng mặt trời)
Giấy bạc 1 đồng (Mẫu 2) (họa tiết mặt sau giống tia nắng mặt trời)

Giấy bạc 1 đồng: Kích thước 112 x 61mm, cả hai mặt màu xanh dương. Mặt trước phía trên là hai dòng chữ viết bằng chữ Việt và chữ Hán “VIỆT-NAM DÂN- CHỦ CỘNG-HÒA”, giữa là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thẳng, bên trái phía trên có chữ “Một Đồng” viết bằng tiếng Lào, dưới là chữ số “1$”, dưới là chữ ký của Giám đốc Ngân khố Trung ương Nguyễn Văn Khoát; bên phải phía trên là hai chữ Hán “Nhất nguyên”- 壹元, dưới là 1 đồng viết số “1$”, chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng. Mặt sau, chính giữa là sắc lệnh của Chính phủ, bên phải là “1$”, bên trái là hai phụ nữ đang cấy, xung quanh được viền bằng hình hoa văn. Tiền 1 đồng có hai loại: một loại như trên, một loại có tia nắng tỏa trên đồng ruộng.

Ảnh 3.1.10. Giấy bạc 5 đồng, 1945 - 1946
Giấy bạc 5 đồng, 1945 - 1946
Ảnh 3.1.11. Giấy bạc 5 đồng, 1949 - 1951
Giấy bạc 5 đồng, 1949 - 1951

Giấy bạc 5 đồng: Phát hành hai đợt với màu sắc và họa tiết khác nhau. Giấy bạc 5 đồng phát hành giai đoạn 1945 - 1946 có kích thước 128 x 86mm, cả hai mặt màu xanh nâu. Mặt trước, phía trái, trên là dòng chữ “GIẤY BẠC VIỆT-NAM”, dưới là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khung ảnh, bên trái ảnh Bác là số “5”; chính giữa là nhà máy đang nhả khói, dưới đó là Sắc lệnh Chính phủ chống làm giả và phá hoại tờ bạc. Bên phải có chữ “NĂM ĐỒNG” bằng chữ Việt, chữ Lào và chữ Hán, phía dưới cùng là dòng chữ Hán “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”. Mặt sau, trên là dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”, dưới đó là “GIẤY BẠC VIỆT NAM”, dưới cùng là dòng chữ ”NĂM ĐỒNG”, bên trái là hình ảnh công binh xưởng, giữa là chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng và chữ ký của Giám đốc Ngân khố Trung ương Nguyễn Văn Khoát. Tờ giấy bạc 5 đồng phát hành năm 1949 -1951 kích thước 129 x 64mm, cả hai mặt màu nâu đỏ. Tờ giấy bạc này được in theo hình chữ nhật nằm dọc. Mặt trước, trên là dòng chữ “ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA” bằng chữ Hán, dưới là chữ Việt đứng khung hình chữ bát, tiếp đó là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía dưới là chữ “GIẤY NĂM ĐỒNG” (chữ Việt) và “Ngũ nguyên”, dưới cùng là chữ số “5” trong vòng hai con rồng uốn khúc, đuôi là hai ngôi sao 5 cánh, số series là 698. Mặt sau được trình bày trong khung hình vòm cửa, trên là chữ “Năm đồng” (chữ Lào), dưới đó là Sắc lệnh Chính phủ chống làm giả và phá hoại đồng bạc, tiếp đến là chữ ký Giám đốc Ngân khố Trung ương Nguyễn Văn Khoát, trên chữ ký là chữ số “5”, có hai con rồng chầu vào, dưới cùng là hình một nữ nông dân vấn khăn, tay ôm bó lúa và một em bé đứng cạnh. Giấy bạc này được đóng dấu “Giấy mẫu bạc Việt Nam” theo chiều dọc, có nghĩa là giấy bạc mẫu.

Ảnh 3.1.12. Giấy bạc 10 đồng, 1949 -1951
Giấy bạc 10 đồng, 1949 -1951

Giấy bạc 10 đồng: Kích thước 140 x 80mm. Mặt trước màu xanh lá cây đậm, bên trái in hình chiến sĩ cầm súng đứng cạnh nữ nông dân cầm cuốc, có chữ ”MƯỜI ĐỒNG” (chữ Việt) và “Thập nguyên”- 拾元, bên phải là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mặt sau màu nâu, trên có dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”, giữa là số “10” to và 3 số “10” nhỏ nằm trong khung hình bán nguyệt có dòng chữ “ĐỘC-LẬP TỰ -DO HẠNH-PHÚC”, bên trái là chữ ký Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến và Giám đốc Ngân khố trung ương Nguyễn Văn Khoát bên phải, giữa là sắc lệnh Chính phủ chống làm giả và phá hoại đồng bạc Việt Nam.

Nguồn: Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Tiền Tài chính có cả tiền kim loại và tiền giấy, được Bộ Tài chính phát hành từ năm 1945 đến năm 1951 ở khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (bao gồm các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Tiền tài chính lấy đồng làm đơn vị tiền tệ, không sử dụng đơn vị tiền tệ của Pháp. Những đồng tiền tài chính này của Chính phủ Trung ương được gọi là Tiền Tài chính hay Tiền Trung ương.
Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ II

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ II

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền sau đây cung cấp các tiêu chí, tiêu chuẩn để xác định tờ tiền trong lưu thông thành tiền đủ/không đủ tiêu chuẩn lưu thông (KĐTCLT) đối với 6 mệnh giá tiền polymer 10.000đ, 20.000đ, 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, 500.000đ khi phân loại bằng máy kiểm đếm, phân loại tiền.
Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ I

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền: Kỳ I

Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông (polymer) ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền sau đây cung cấp các tiêu chí, tiêu chuẩn để xác định tờ tiền trong lưu thông thành tiền đủ/không đủ tiêu chuẩn lưu thông (KĐTCLT) đối với 6 mệnh giá tiền polymer 10.000đ, 20.000đ, 50.000đ, 100.000đ, 200.000đ, 500.000đ khi phân loại bằng máy kiểm đếm, phân loại tiền.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1952 - 1955: Kỳ I

Từ tháng 9/1945, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều phương án để vãn hồi sự hiện diện của mình trên bán đảo Đông Dương, trong đó có việc dùng ảnh hưởng và hình ảnh của Hoàng đế vừa thoái vị là Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy) làm công cụ để đối đầu với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại thời điểm đó Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã nhận lời làm cố vấn cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên khó có thể tiếp cận để đạt được mục đích trên. Tháng 3/1946, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bỏ trốn và ở lại Hồng - Kông.
Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Ban hành Mẫu tiêu biểu tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông ứng dụng trên máy kiểm đếm, phân loại tiền

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 2

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta gồm ba nước là Mỹ, Anh và Liên Xô, ngày 13/9/1945, quân đồng minh Anh tiến vào tiếp quản Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiếp tục được vũ trang, giải giáp quân Nhật và sau đó mở rộng đánh chiếm lại Nam Kỳ, khôi phục lại chế độ thực dân cai trị tại miền Nam Việt Nam. Ngân hàng Đông Dương cũng khôi phục lại việc phát hành tiền và lưu thông trong vùng chiếm đóng.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1947 - 1954: Phát hành kỳ 1

Theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta gồm ba nước là Mỹ, Anh và Liên Xô, ngày 13/9/1945, quân đồng minh Anh tiến vào tiếp quản Sài Gòn. Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiếp tục được vũ trang, giải giáp quân Nhật và sau đó mở rộng đánh chiếm lại Nam Kỳ, khôi phục lại chế độ thực dân cai trị tại miền Nam Việt Nam. Ngân hàng Đông Dương cũng khôi phục lại việc phát hành tiền và lưu thông trong vùng chiếm đóng.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1942 - 1951

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1942 - 1951

Tháng 7 năm 1941, Hiệp ước Pháp - Nhật ký kết mở cửa cho quân đội Phát xít Nhật tràn vào Đông Dương. Dưới sự kiểm soát của quân Nhật, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux tiếp tục cho in và phát hành tiền, chủ yếu phục vụ bộ máy cai trị tại chỗ của quân Phát xít Nhật, gồm các mệnh giá sau: 1 piastre (giấy một đồng vàng), 5 piastres (giấy năm đồng vàng), 20 piastres (giấy hai chục đồng vàng), 100 piastres (Một trăm đồng vàng), 500 piastres (giấy năm trăm đồng vàng). Lúc này giao thông trên thế giới bị ngăn trở do Chiến tranh thế giới thứ hai, nên các loại giấy bạc thời kỳ này được họa sỹ Việt Nam thiết kế (Trần Tấn Lộc và Phạm Ngọc Khuê) và tiếp tục in ở Nhà in Viễn Đông (IDÉO) tại Hà Nội. Chất lượng giấy in tiền cũng là loại giấy nội hóa.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 3 (1942 - 1944)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1940 - 1944: Phát hành kỳ 3 (1942 - 1944)

Ngân hàng Đông Dương tiếp tục phát hành ba mẫu cũ, nhưng có thay đổi chữ ký của Tổng thủ quỹ và Giám đốc tài chính. Tiền kỳ này có chữ ký Le Trésorier General: Louis MAYER góc dưới bên trái tờ tiền và Le Derecteur des Finances: Jean COUSIN góc dưới bên phải tờ tiền. Bên cạnh đó, Ngân hàng Đông Dương còn phát hành thêm 4 loại tiền mới gồm: Tờ 5 cents (năm xu), tờ 10 cents (một hào), tờ 20 cents (hai hào) và tờ 50 cents (năm hào).