Chỉ số kinh tế:
Ngày 14/1/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.135 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.929/26.341 đồng/USD. Tháng 12/2025, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Cả nước có gần 17,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 13,9% so với tháng trước và 71,6% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 44,03 tỷ USD, tăng 12,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 44,69 tỷ USD, tăng 17,6%, cán cân thương mại nhập siêu 0,66 tỷ USD. CPI tháng 12 tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ. Khách quốc tế đến Việt Nam hơn 2 triệu lượt, tăng 15,7%.
tet-duong-lich

Tiền Trung ương phát hành (1945-1951) - Tiền kim loại

Lâm.TV
Lâm.TV  - 
Tiền Tài chính có cả tiền kim loại và tiền giấy, được Bộ Tài chính phát hành từ năm 1945 đến năm 1951 ở khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (bao gồm các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Tiền tài chính lấy đồng làm đơn vị tiền tệ, không sử dụng đơn vị tiền tệ của Pháp. Những đồng tiền tài chính này của Chính phủ Trung ương được gọi là Tiền Tài chính hay Tiền Trung ương.
aa

Tiền kim loại

Bộ Tiền Tài chính đầu tiên là tiền kim loại gồm có 20 xu, 5 hào, 1 đồng bằng nhôm và 2 đồng bằng đồng được Bộ Tài chính tổ chức sản xuất theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ vào đầu tháng 12 năm 1945. Mặt trước đồng 1 đồng và 2 đồng có hình chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh ở chính giữa đã làm nức lòng nhân dân cả nước. Bộ tiền này được chế tạo và phát hành từ tháng 10 năm 1945 đến năm 1946, chủ yếu là khu vực miền Bắc. Các loại tiền kim loại 20 xu, 5 hào, 1 đồng được dập tại tầng hầm nhà Bát Giác (hiện nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) trên máy dập tiền mà Pháp vẫn dùng để dập tiền chinh Bảo Đại làm tiền lẻ cho đồng Đông Dương. Sau đó, do có quân của Lư Hán đóng ở gần nhà Bát Giác, nên việc dập tiền được chuyển về Cây Đa Nhà Bò ở phố Lò Đúc; tháng 3 năm 1946, lại chuyển về chiến khu Cổ Nghĩa (Chi Nê, Lạc Thủy, Hòa Bình).

Ảnh 3.1.1. Đồng tiền 20 xu, đk 22mm
Đồng tiền 20 xu, đk 22mm

Đồng tiền 20 xu: Hình tròn, không lỗ, cạnh răng cưa, chất liệu nhôm. Mặt trước dập nổi hình ngôi sao 5 cánh, phía dưới là năm đúc “1945”, xung quanh là dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”. Mặt sau dập nổi mệnh giá “20 XU”, chính giữa hai hình vẽ bán nguyệt kiểu chữ triện. Tiền có đường kính 22mm, dày 1mm, trọng lượng 2gr.

Ảnh 3.1.2. Đồng tiền 5 hào, đk 27mm
Đồng tiền 5 hào, đk 27mm

Đồng tiền 5 hào: Hình tròn, không lỗ, chất liệu nhôm. Mặt trước dập nổi hình lư hương, phía dưới là năm “1946”, xung quanh là dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”. Mặt sau dập mệnh giá “5 HÀO” trên nền ngôi sao 5 cánh. Đường kính 27mm, dày 2mm, trọng lượng 2,5gr.

Đồng tiền 1 đồng: Hình tròn, không lỗ, cạnh răng cưa, chất liệu nhôm. Mặt trước đúc nổi chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nghiêng, xung quanh là dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”. Mặt sau dập nổi hình bông lúa và mệnh giá “1 ĐỒNG”. Tiền có đường kính 32,4 mm, dày 2mm, trọng lượng 4.7gr.

Ảnh 3.1.3. Đồng tiền 1 đồng, đk 32,4mm
Đồng tiền 1 đồng, đk 32,4mm

Điều khá đặc biệt chỉ có ở đồng tiền 1 đồng là dưới hình ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh có chữ H NGOC rất nhỏ là tên viết tắt của nhà điêu khắc Hoàng Như Ngọc - người khắc khuôn để dập tiền.

Ảnh 3.1.4. Đồng tiền Hai đồng, đk 30mm
Đồng tiền Hai đồng, đk 30mm

Đồng tiền 2 đồng: Hình tròn, không lỗ, chất liệu hợp kim đồng. Mặt trước đúc nổi chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn hình bông lúa và dòng chữ “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH”, mặt sau dập nổi mệnh giá “HAI ĐỒNG” và hình ngôi sao 5 cánh trong khuôn hình bông lúa, xung quanh là dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”. Loại tiền này được đúc tại Huế. Tiền có đường kính 30mm, dày 1,2mm, trọng lượng 12gr.

Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Nguồn: Tác phẩm ''Lịch sử đồng tiền Việt Nam'' của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Lâm.TV

Tin liên quan

Tin khác

Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976)

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước đứng trước nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng gặp phải vô vàn khó khăn, thử thách, trong đó có nhiều vấn đề cấp bách về kinh tế và tài chính tiền tệ cần được giải quyết kịp thời. Ngân khố Trung ương lúc bấy giờ chỉ còn vẻn vẹn 1.230.720 đồng Đông Dương, trong đó có 586.000 đồng tiền lẻ rách nát chờ tiêu hủy.
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1923 - 1939

Từ năm 1923 đến năm 1939, Ngân hàng Đông Dương cho phát hành bốn kỳ với 8 loại mệnh giá là 1 piastre (có 2 loại), 5 piastres (có 2 loại), 20 piastres (có 2 loại), 100 piastres (1 loại) và 500 piastres (1 loại). Trong các kỳ phát hành này, tên ngân hàng phát hành là: “Banque de L’Indo-chine” (bỏ gạch nối ở giữa thành “L’Indochine”). Mặt sau có ba thứ chữ là Hán, Việt, Miên (Campuchia).
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923: Phát hành kỳ 3 (1898-1903)

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923: Phát hành kỳ 3 (1898-1903)

Căn cứ vào hai Nghị định ngày 21/01/1875 và 20/02/1888, Ngân hàng Đông Dương tiếp tục cho in thêm và phát hành tiền giấy các mệnh giá 1 piastre, 5 piastres, 20 piastres và 100 piastres theo yêu cầu của Bộ thuộc địa Pháp. Về cơ bản, họa tiết, kích thước và chất liệu giấy của các tờ tiền này không thay đổi so với kỳ 2, riêng tờ 1 piastre có nền màu xanh được đổi thành màu đỏ. Ngoài ra, 3 loại mệnh giá 5 piastres, 20 piastres và 100 piastres có in trực tiếp địa danh nơi phát hành trên tờ tiền
Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923

Tiền giấy phát hành giai đoạn 1875-1923

Một năm sau ngày thành lập chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Sài Gòn (ngày 10/4/1875), song song với việc phát hành tiền kim loại, Ngân hàng Đông Dương đã cho phát hành tiền giấy. Tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương được ấn định giá trị song bản vị vàng và bạc đáp ứng các chức năng của tiền tệ. Ưu điểm của tiền giấy là có thể in nhiều mệnh giá khác nhau, tiện lợi cho việc lưu thông, cất trữ và thu hồi. Vì vậy, trong thời kỳ 10 năm đầu thế kỷ XX, giá trị tiền giấy chiếm tới 85% tổng giá trị tiền đưa vào lưu thông. Tuy nhiên, tại Việt Nam, do người dân vẫn có thói quen tiêu dùng tiền kim loại truyền thống hình tròn lỗ vuông bằng đồng hoặc kẽm hoặc kim loại quý của triều Nguyễn, nên tiền giấy trong giai đoạn đầu chủ yếu chỉ lưu hành ở một vài thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng và thường được đóng dấu hoặc viết tay địa danh phát hành.
Tiền phát hành chung cho ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia (1953 - 1955)

Tiền phát hành chung cho ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia (1953 - 1955)

Ngày 30/8/1945, sau Cách mạng Tháng Tám, Bảo Đại thoái vị, làm cố vấn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 8/3/1949, ông ký với Tổng thống Pháp thỏa thuận công nhận Việt Nam, Lào, Campuchia độc lập trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp. Từ đó, Pháp ngừng phát hành tiền Đông Dương, năm 1951 cho phép ba nước phát hành riêng, lưu thông chung. Ở Việt Nam, thời Bảo Đại có bộ tiền nhôm 1953 mệnh giá 10, 20, 50 xu, hay còn gọi là “đồng xu Ba cô”. Đồng 50 xu: mặt trước ba thiếu nữ, dòng “QUỐC GIA VIỆT NAM” và năm 1953; mặt sau ghi mệnh giá, và chữ “VIỆT NAM”.
Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ V: Thoi bạc

Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), triều đình ban hành quy định đúc bạc kiểu mới, mỏng hơn, có dấu niên hiệu, năm đúc, tên tỉnh và chữ “nội thảng”. Mỗi tỉnh (trừ Hà Tĩnh, Quảng Bình, Ninh Bình) được cấp khuôn đúc bạc 10 lạng và 1 lạng. Bộ Hộ quy định bạc không có dấu đúng chuẩn chỉ lưu hành đến tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Dân muốn đúc lại phải nộp đơn, trả công thợ. Năm tỉnh Thừa Thiên, Gia Định, Hà Nội, Bình Định, Nghệ An lập sở đúc, quan sở tại quản lý việc đúc bạc.
Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Tiền đời vua Nguyễn Hiến Tổ (1841 - 1847) - Kỳ III: Tiền đồng lớn

Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) là vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn. Trong thời gian trị vì, nhà vua tiếp nối chính sách của vua Minh Mạng, đồng thời có những cải cách riêng. Về tiền tệ, Thiệu Trị cho phát hành tiền đồng gọi là Thiệu Trị Thông Bảo. Loại tiền này được đúc bằng đồng, hình tròn, giữa có lỗ vuông theo truyền thống “tiền cổ phương trung” của Á Đông, vừa thuận tiện xâu thành chuỗi, vừa mang ý nghĩa trời tròn đất vuông.
Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ II: Tiền đời vua Trần Thái Tông (1225-1258)

Tiền triều Trần (1225-1400) - Kỳ II: Tiền đời vua Trần Thái Tông (1225-1258)

Vua Trần Cảnh lên ngôi tháng 12 năm Ất Dậu (1225), sau khi mất, miếu hiệu là Thái Tông. Vua Trần Thái Tông tại vị 33 năm, đặt 3 niên hiệu: Kiến Trung (1225-1231), Thiên Ứng Chính Bình (1232-1250) và Nguyên Phong (1251-1258).
Tiền triều Đinh (970-980)

Tiền triều Đinh (970-980)

Sự ra đời của đồng tiền Thái Bình hưng bảo là một trong những tiêu chí, góp phần khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc...
Quy định mới về quản lý seri tiền mới in của NHNN

Quy định mới về quản lý seri tiền mới in của NHNN

NHNN Việt Nam vừa ban hành Thông tư 01/2024/TT-NHNN quy định về quản lý seri tiền mới in của NHNN. Thông tư này quy định việc quản lý seri tiền mới in đối với các loại tiền giấy của NHNN được thực hiện từ khi cấp vần seri, sử dụng vần seri trong quá trình in tiền cho đến khi tiền mới in được phát hành vào lưu thông.