Chỉ số kinh tế:
Ngày 8/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.603 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.381/ 26.841 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Tín dụng chính sách - “đòn bẩy” giảm nghèo bền vững ở Quảng Trị

Nghi Lộc
Nghi Lộc  - 
Nguồn vốn tín dụng chính sách đã và đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
aa

Năm 2025, Quảng Trị triển khai sắp xếp lại 78 đơn vị hành chính cấp xã, một bước đi quan trọng trong tiến trình tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra yêu cầu rất cao đối với việc bảo đảm ổn định đời sống người dân, duy trì thông suốt các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là dòng vốn tín dụng ưu đãi dành cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách.

Theo bà Trần Đức Xuân Hương, Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) chi nhánh tỉnh Quảng Trị, đơn vị đã chủ động duy trì mạng lưới “điểm giao dịch”, bảo đảm phương châm “gần dân, sát dân”, không để việc sắp xếp đơn vị hành chính làm gián đoạn dòng vốn chính sách. Đây được xem là yếu tố then chốt giúp tín dụng chính sách tiếp tục phát huy vai trò “trụ đỡ” an sinh trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng địa ở phương.

Cùng với việc duy trì ổn định mạng lưới giao dịch, sự phối hợp giữa NHCSXH chi nhánh Quảng Trị với các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác trên địa bàn ngày càng chặt chẽ và đi vào nền nếp. Thông qua cơ chế ủy thác, các chương trình tín dụng chính sách tiếp tục được triển khai đồng bộ, kịp thời đến đúng đối tượng thụ hưởng, từ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo đến các nhóm yếu thế trong xã hội.

Tín dụng ưu đãi “đòn bẩy” giúp giảm nghèo bền vững ở Quảng Trị.
Tín dụng ưu đãi “đòn bẩy” giúp giảm nghèo bền vững ở Quảng Trị.

Đáng chú ý, chất lượng hoạt động ủy thác không ngừng được nâng lên. Các tổ chức hội, đoàn thể không chỉ đóng vai trò “cánh tay nối dài” của ngân hàng trong chuyển tải nguồn vốn, mà còn tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền chính sách, bình xét cho vay, đôn đốc thu hồi nợ, giám sát việc sử dụng vốn tại cơ sở. Qua đó, vừa góp phần bảo đảm an toàn vốn, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.

Đến nay, dư nợ ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn Quảng Trị đạt 11.934 tỷ đồng, chiếm 99,34% tổng dư nợ của chi nhánh. Con số này cho thấy vai trò của mô hình ủy thác trong triển khai tín dụng chính sách tại địa phương, đồng thời phản ánh mức độ gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa ngân hàng và các tổ chức hội, đoàn thể.

Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ 17 chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn Quảng Trị đạt 12.012 tỷ đồng, tăng 9,5% so với đầu năm. Doanh số cho vay trong năm đạt 3.884 tỷ đồng, hỗ trợ hơn 64.500 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống.

Một chỉ báo quan trọng phản ánh hiệu quả của tín dụng chính sách là tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh chỉ chiếm 0,10% tổng dư nợ. Kết quả này cho thấy công tác quản lý vốn được thực hiện chặt chẽ, đồng thời phản ánh ý thức trả nợ và tinh thần trách nhiệm của người vay trong việc sử dụng vốn đúng mục đích, hiệu quả.

duy trì mạng lưới “điểm giao dịch”, bảo đảm phương châm “gần dân, sát dân”, không để việc sắp xếp đơn vị hành chính làm gián đoạn dòng vốn chính sách.
Duy trì mạng lưới “điểm giao dịch”, bảo đảm “gần dân, sát dân”, không để việc sắp xếp đơn vị hành chính làm gián đoạn dòng vốn chính sách.

Nguồn vốn tín dụng chính sách đã và đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo bền vững trên địa bàn Quảng Trị. Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm nhanh và bền vững. Bình quân giảm 1,24%/năm, đạt mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 4,46% năm 2024 (19.805 hộ), đến cuối năm 2025 còn 3,45% (15.437 hộ). Điểm sáng nổi bật là kết quả giảm nghèo tại các vùng đặc thù như, khu vực miền núi giảm 6,89% sau 3 năm (bình quân 2,29%/năm), vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm 13,66%, vượt xa mục tiêu kế hoạch.

Năm 2025, vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ hơn 7.700 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác ở Quảng Trị vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Nguồn vốn này đã góp phần tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho gần 14.500 lao động; hỗ trợ 58 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng...

Cũng theo bà Trần Đức Xuân Hương, nguồn vốn chính sách đã góp phần tạo nên sự đổi thay trong mỗi gia đình, trên mỗi miền quê. Để làm được điều này, ngay từ đầu năm, đơn vị đã chỉ đạo cấp cơ sở chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, hội, đoàn thể nhận ủy thác để tuyên truyền, vận động, nắm bắt nhu cầu vay vốn của người dân. Qua đó bố trí nguồn vốn cho vay đáp ứng nhu cầu chính đáng cho họ…

Không dừng lại ở hỗ trợ sản xuất, tín dụng chính sách còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân thông qua việc đầu tư hàng chục nghìn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; xây dựng, sửa chữa hàng trăm căn nhà ở xã hội. Nhiều đối tượng đặc thù như người chấp hành xong án phạt tù, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cũng được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để ổn định cuộc sống, học tập và tái hòa nhập cộng đồng. Trong năm 2025, NHCSXH chi nhánh Quảng Trị cũng đã hoàn thành việc đối chiếu, phân loại nợ tại 78/78 xã, phường, đạt 100% kế hoạch đề ra…

Tín dụng chính sách góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua việc đầu tư các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường…
Tín dụng chính sách góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua việc đầu tư các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động tín dụng chính sách xã hội tại Quảng Trị vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn. Nguồn ngân sách địa phương bố trí hàng năm qua NHCSXH để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn hạn chế, chiếm tỷ trọng thấp. Bên cạnh, tại một số địa bàn, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác chưa bao quát đầy đủ các nội dung công việc trong quy trình cho vay, nhất là khâu bình xét, kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn, cũng như việc sử dụng vốn của tổ viên. Việc lồng ghép tín dụng chính sách với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và chuyển giao khoa học, kỹ thuật vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư vốn vay.

Trước thực tế đó, để tín dụng chính sách thực sự trở thành “đòn bẩy” giúp giảm nghèo bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh Quảng Trị tiếp tục tập trung thực hiện hiệu quả Chỉ thị 39-CT/TW của Ban Bí thư; duy trì và tối ưu hóa mô hình quản lý tín dụng đặc thù của NHCSXH. Đồng thời, bám sát Chiến lược phát triển NHCSXH đến năm 2030, chủ động tham mưu tăng tỷ trọng nguồn vốn ngân sách địa phương, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tế của người dân.

Cùng với đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch vốn; đẩy mạnh tập huấn, hỗ trợ, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong sản xuất; mở rộng đối tượng vay vốn đối với các hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình và người lao động thu nhập thấp. Qua đó, giúp người dân chủ động phát triển kinh tế hộ, ổn định cuộc sống và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn mới.

Nghi Lộc

Tin liên quan

Tin khác

Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Gỡ điểm nghẽn, đánh thức tiềm năng nông nghiệp Đà Nẵng

Đầu ra thiếu ổn định, sản xuất nhỏ lẻ, liên kết với doanh nghiệp chưa bền vững và khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế đang là những “nút thắt” của nông nghiệp Đà Nẵng. Thành phố đang tìm cách đưa khoa học công nghệ, chuyển đổi số đến gần hơn với nông dân, đồng thời tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Thủy sản Việt tìm động lực tăng trưởng từ công nghệ và thị trường nội địa

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh dựa vào sản lượng và xuất khẩu, thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển sang mô hình tạo giá trị cao hơn. Công nghệ, chế biến sâu, minh bạch chuỗi cung ứng và khai thác thị trường gần 100 triệu dân được xem là những động lực quan trọng để ngành hướng tới mục tiêu xuất khẩu 12 tỷ USD và tăng trưởng bền vững.
Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Ngành chăn nuôi: Lợi thế cạnh tranh phía sau việc gắn mã QR

Truy xuất nguồn gốc đang dần trở thành một tiêu chuẩn cạnh tranh mới của ngành chăn nuôi. Nhưng để một mã QR thực sự tạo thêm giá trị cho sản phẩm, phía sau đó phải là cả một chuỗi sản xuất được kiểm soát, kết nối dữ liệu và quan trọng hơn, có đầu ra ổn định.
Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Xuất khẩu sầu riêng tiếp tục tăng mạnh trong khi vụ thu hoạch lớn tại Tây Nguyên mới bước vào chính vụ. Cánh cửa thị trường Ấn Độ vừa mở thêm dư địa tăng trưởng, nhưng để tiến tới mốc 4 tỷ USD, doanh nghiệp không chỉ cần thêm thị trường mà còn phải kiểm soát chặt vùng nguyên liệu, chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Đà Nẵng phát huy sức mạnh toàn dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh

Sau 10 năm triển khai Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Đà Nẵng huy động hiệu quả sức mạnh của cả hệ thống chính trị và người dân, tạo nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa và giữ vững an ninh trật tự ở cơ sở.
Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Nông nghiệp muốn đi xa, cơ giới hóa phải bắt nhịp cùng tổ chức sản xuất

Cơ giới hóa đang trở thành một trong những động lực quan trọng để nông nghiệp Việt Nam nâng năng suất, giảm chi phí và tiến gần hơn tới sản xuất hiện đại. Nhưng đằng sau những con số tăng trưởng về máy móc vẫn còn một nghịch lý là nơi đã cơ giới hóa cao thì chưa đồng bộ, nơi cần cơ giới hóa mạnh lại thiếu máy móc phù hợp. Nếu không giải được bài toán này, đầu tư công nghệ rất dễ rơi vào tình trạng “có máy nhưng chưa tạo ra giá trị”.
Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Đơn giản hóa TTHC về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Mã số vùng trồng dẫn dắt liên kết sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản

Mã số vùng trồng dẫn dắt liên kết sản xuất để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản

Trong nhiều năm qua, ở không ít địa phương, hành trình đưa nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới thường bắt đầu bằng việc thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc xây dựng vùng sản xuất tập trung. Đây được xem là điều kiện để đáp ứng các yêu cầu về cấp mã số vùng trồng được ví như tấm "hộ chiếu" bắt buộc đối với nhiều thị trường xuất khẩu.
TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp đô thị đạt 700 triệu đồng/ha/năm

TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp đô thị đạt 700 triệu đồng/ha/năm

UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa giá trị sản xuất bình quân canh tác nông nghiệp đô thị đạt 700 triệu đồng/ha/năm. Mô hình phát triển tập trung vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái, sản xuất theo chuỗi giá trị và chuyển đổi số.
Doanh nghiệp nông nghiệp cần thêm động lực từ vốn và chính sách

Doanh nghiệp nông nghiệp cần thêm động lực từ vốn và chính sách

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục tăng trưởng tích cực nhưng số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp vẫn còn rất khiêm tốn. Theo các chuyên gia, để nông nghiệp thực sự trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, cần đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, hạ tầng, logistics, nhân lực và mở rộng khả năng tiếp cận dòng vốn tín dụng trung, dài hạn, đặc biệt là tín dụng xanh.