Trái phiếu doanh nghiệp ế, do đâu?

09:42 | 04/05/2020

Dự báo, thị trường TPDN sẽ gặp những khó khăn nhất định trong ngắn hạn khi các kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN đang bị đảo lộn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Tuy nhiên, giới chuyên môn nhận định đây cũng là cơ hội để thị trường kiểm nghiệm lại những sản phẩm TPDN khi thị trường phát hành vẫn còn sơ khai, NĐT sàng lọc lại được những TPDN có sức khỏe tốt, giúp giảm thiểu một phần rủi ro cho thị trường.

Đưa thị trường trái phiếu doanh nghiệp vào khuôn khổ là cần thiết
Siết chặt điều kiện phát hành trái phiếu DN
Siết trái phiếu doanh nghiệp và những ảnh hưởng tích cực lên thị trường chứng khoán

Lo rủi ro, nhà đầu tư thận trọng mua trái phiếu doanh nghiệp

Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế MaritimeBank (MSB) về thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đang diễn ra kém sôi động do bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Nhận định này dựa trên dữ liệu phát hành riêng lẻ từ HNX cho thấy, tổng lượng TPDN phát hành trong quý I ở mức 29.384 tỷ đồng, giảm 76% so với quý trước, chủ yếu do nhóm TCTD giảm mạnh phát hành. Cụ thể, trong tháng 2/2020 chỉ có 19 DN huy động được 6.853 tỷ đồng so với 11.603 tỷ đồng huy động được trong tháng 1/2020, thời điểm chưa “ngấm đòn” bởi tác động của dịch bệnh.

Thống kê từ HNX, nhóm TCTD chỉ phát hành chưa đến 1 nghìn tỷ đồng (quý trước là 45 nghìn tỷ đồng), kỳ hạn 7 - 10 năm, mục đích để tăng vốn cấp 2. Dịch bệnh cũng ảnh hưởng đáng kể tới kế hoạch tài chính của các DN nhóm BĐS khiến lượng phát hành của nhóm này cũng giảm 40% so quý trước, tuy nhiên vẫn ở mức tốt nhất so với ba quý đầu 2019 so với các ngành khác. Trong quý I, tỷ lệ phát hành thành công của nhóm này ở mức 88% - cho thấy dù lượng phát hành giảm, nhưng nhu cầu mua trái phiếu vẫn được duy trì.

Trái chủ nắm giữ TPDN nhiều nhất theo thống kê của MSB vẫn là NĐT tổ chức trong nước, chủ yếu là các công ty chứng khoán khi họ mua trên thị trường sơ cấp rồi phân phối lại trên thứ cấp. Tiếp đến là các NHTM khi đến cuối tháng 2, khá nhiều ngân hàng mua TPDN như Techcombank hay MB. NĐT cá nhân trong nước cũng gia tăng mua TPDN, biểu hiện là thị phần của nhóm này tăng lên mức 30% từ mức 9% trong năm 2019. Lãi suất và kỳ hạn phát hành bình quân gia quyền của TPDN đều tăng so với quý trước, lãi suất được ấn định trong khoảng từ 10 - 11%/năm, với kỳ hạn bình quân 3,9 năm - cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi cùng kỳ hạn và bằng với lãi suất cho vay trung - dài hạn của các TCTD.

Lãnh đạo một DN BĐS cho biết, DN này không may khi lên kế hoạch phát hành TPDN đúng đợt dịch bắt đầu, khiến cho đợt phát hành bị thất bại vì công ty gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút NĐT. Với tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, công ty tạm gác lại kế hoạch phát hành trái phiếu có thể phải đến quý IV năm nay, DN mới tính đến phát hành thêm đợt TPDN để huy động vốn chuẩn bị kế hoạch kinh doanh năm sau.

Nguyên nhân nữa khiến cho thị trường TPDN năm nay khó khăn theo đánh giá của TS. Võ Trí Thành do tâm lý NĐT trở nên thận trọng với các loại tài sản có tính rủi ro cao như cổ phiếu, trái phiếu. “Thời điểm khó khăn như hiện nay, tiền mặt vẫn là vua”, TS.Thành nhận định.

Quả vậy, thị trường TPDN hiện nay ở Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đã xuất hiện tình trạng một số DN BĐS chạy đua huy động vốn khi phát hành kỳ hạn rất ngắn, từ 1 - 2 năm nhưng lãi suất cao từ 11,5 - 12%/năm, khối lượng huy động tương đối lớn từ 1.000 - 1.600 tỷ đồng/lô, phát hành không có tài sản bảo đảm và chủ yếu NĐT trong nước mua. Thị trường tiềm ẩn rủi ro nếu những DN này gặp khó khăn về thanh khoản, nhất là khi cơ chế bảo vệ nhóm NĐT nhỏ lẻ chưa hoàn thiện.

Trong khi tính minh bạch của thị trường kém thể hiện qua các thông tin công bố thiếu chi tiết về mục đích sử dụng vốn và phương án trả nợ gốc, lãi, thiếu thông tin về trái chủ; thị trường chưa hình thành được đường cong lợi suất chuẩn, chưa có các công ty xếp hạng tín nhiệm; các văn bản pháp luật liên quan đến thị trường chưa hoàn thiện. “Ðiều này cộng với bối cảnh chịu tác động tiêu cực do dịch bệnh Covid-19, đa số DN gặp khó khăn, kết quả kinh doanh suy giảm, thậm chí thua lỗ, phá sản nên NĐT e ngại rủi ro DN mất khả năng thanh toán, nên NĐT rất thận trọng”, TS. Thành đánh giá.

Khó sôi động trong ngắn hạn

Trong ngắn hạn, nguồn cung sơ cấp dự báo sẽ giảm khi tình hình dịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN, khiến các DN phải thay đổi hoặc trì hoãn, giãn kế hoạch phát hành. Tuy nhiên, kể từ sau quý II, các nhu cầu huy động vốn có thể được nối lại khi các DN khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đối với nhóm TCTD, động lực phát hành cũng giảm khi hầu hết các ngân hàng đã hoàn thành xong chỉ tiêu phát hành, đáp ứng yêu cầu tăng tỷ trọng vốn trung và dài hạn của Thông tư 22, có hiệu lực từ 1/1/2020. Nhu cầu phát hành sẽ chỉ tập trung vào trái phiếu kỳ hạn dài 7 - 10 năm để tăng vốn cấp 2, cải thiện hệ số CAR đáp ứng quy định Thông tư 41, áp dụng chuẩn Basel II. Tuy nhiên, theo MSB cũng không loại trừ khả năng các ngân hàng cân đối phát hành khi việc đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo Thông tư 41 được gia hạn đến 1/1/2023.

Ngược lại, nhu cầu đầu tư TPDN của nhóm TCTD dự báo vẫn duy trì khi các NHTM có thể bán lại một phần trái phiếu này cho các tổ chức, quỹ đầu tư và khách hàng cá nhân khi cần điều chỉnh khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán. Do vậy, trong bối cảnh thanh khoản hệ thống ổn định, tín dụng tăng trưởng chậm, theo nhận định của MSB dòng tiền có thể vẫn đầu tư một phần vào kênh TPDN.

Đối với các NĐT tổ chức khác và cá nhân, việc lãi suất TPDN, đặc biệt trong lĩnh vực BĐS vẫn hấp dẫn khi so sánh với lãi suất huy động trên thị trường 1 đang có xu hướng giảm hay các kênh đầu tư chứng khoán, vàng... đang khá rủi ro bởi dịch bệnh. Tuy nhiên, NĐT cũng sẽ có xu hướng thận trọng hơn với những rủi ro gia tăng do những lo ngại liên quan đến tình hình trả nợ của DN.

Dự báo, thị trường TPDN sẽ gặp những khó khăn nhất định trong ngắn hạn khi các kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN đang bị đảo lộn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Tuy nhiên, giới chuyên môn nhận định đây cũng là cơ hội để thị trường kiểm nghiệm lại những sản phẩm TPDN khi thị trường phát hành vẫn còn sơ khai, NĐT sàng lọc lại được những TPDN có sức khỏe tốt, giúp giảm thiểu một phần rủi ro cho thị trường. Mặt bằng lãi suất TPDN sẽ được điều chỉnh giảm phù hợp với định hướng giảm mặt bằng lãi suất chung của Chính phủ và NHNN, song vẫn phù hợp với mức độ rủi ro đặc thù của thị trường. Trong dài hạn, thị trường sẽ vẫn tiếp tục sôi động khi kênh TPDN luôn được định hướng là kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.067 23.267 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.620
51.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.620
51.470
Vàng SJC 5c
47.620
51.490
Vàng nhẫn 9999
47.470
51.270
Vàng nữ trang 9999
47.170
50.970