Triển vọng dài hạn của chứng khoán Việt sẽ kích hoạt dòng tiền từ các quỹ

11:07 | 09/08/2022

Dòng tiền từ quỹ hoán đổi danh mục (ETF) đã đảo chiều sau 3 tháng vào ròng liên tiếp, theo bà Hoàng Việt Phương, Giám đốc Trung tâm phân tích và tư vấn đầu tư - Công ty CP Chứng khoán SSI cho biết.

trien vong dai han cua chung khoan viet se kich hoat dong tien tu cac quy

Các Quỹ ghi nhận mức rút ròng mạnh trong tháng bao gồm: VFM VNDiamond (rút ròng 522 tỷ đồng trong tháng 7 sau khi vào ròng 5.600 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm), VanEck (-300 tỷ đồng, tháng rút mạnh nhất kể từ tháng 3/2020) và VFM VN30 (-120 tỷ đồng).

Ngược lại, việc Fubon (+400 tỷ đồng) duy trì vào ròng tháng thứ 7 liên tiếp (với quy mô giảm dần theo tháng) và quỹ SSIAM VNFIN Lead (+170 tỷ đồng) đã giúp hạn chế dòng vốn rút ra ròng. Nhìn chung, các quỹ ETF bị rút ròng nhẹ 347 tỷ đồng trong tháng 7 sau khi ghi nhận dòng vốn 8.376 tỷ đồng vào ròng trong 6 tháng đầu năm.

Tương tự, dòng tiền từ các quỹ chủ động quay lại rút ròng 163 tỷ đồng trong tháng 7 sau 2 tháng vào ròng. Diễn biến dòng tiền của các quỹ chủ động khá phân hóa, với việc một số quỹ vẫn liên tục rút ròng, trong khi việc giải ngân cũng được diễn ra ở một số quỹ trong vòng 4 tháng qua (nhưng với mức độ giảm dần theo tháng). Tính chung trong 7 tháng, các quỹ chủ động rút ròng khoảng 1,1 nghìn tỷ đồng, tập trung vào tháng 2 và tháng 3.

Giao dịch khối ngoại bán ròng trên thị trường chứng khoán trong tháng 7, với tổng giá trị là hơn 1 nghìn tỷ đồng. Nếu loại trừ giao dịch thỏa thuận đột biến của KDC vào cuối tháng 7 (mua ròng gần 980 tỷ đồng), khối ngoại đã bán ròng tổng cộng gần 2 nghìn tỷ đồng.

“Điểm tích cực trong tháng là chúng tôi quan sát thấy giao dịch khối ngoại tại các quốc gia trong khu vực như Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan và Malaysia đã chuyển dịch sang mua ròng trong tháng 7, hay mức độ bán ròng giảm mạnh như quan sát thấy ở Indoneasia và Phillipines. Trên thực tế, xu hướng mua ròng cũng được ghi nhận tại Việt Nam trong 2 tuần cuối tháng 7”, bà Phương cho biết thêm.

Diễn biến dòng vốn vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong tháng 7 tương đồng với kỳ vọng và SSI duy trì góc nhìn trung lập đối với xu hướng dòng tiền trong thời gian tới. Tuy nhiên, quy mô rút ròng kỳ vọng sẽ không quá cao, thậm chí có thể sẽ vào ròng nhẹ sau những điều chỉnh linh hoạt của NHNN trong điều hành chính sách tiền tệ nhằm ổn định vĩ mô và dòng vốn vào cổ phiếu toàn cầu trong thời gian qua đã phần nào phản ánh những rủi ro trước mắt.

“Trên hết, triển vọng dài hạn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam duy trì tích cực có thể sẽ kích hoạt dòng tiền từ các quỹ chủ động giải ngân. Bên cạnh đó, dòng vốn ETF vẫn có thể duy trì sức hấp dẫn nhất định, với các sản phẩm mới ra mắt như quỹ DCVFMVNMIDCAP (tập trung vào nhóm cổ phiếu vốn hóa vừa thuộc chỉ số VNMidcap) và quỹ KIM VNFINSELECT (tập trung vào các cổ phiếu tài chính thuộc chỉ số VNFIN Select)”, đại diện SSI nhấn mạnh.

Trần Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950