Trung Quốc bất ngờ cắt giảm lãi suất và rút ​​thanh khoản khỏi hệ thống ngân hàng

11:00 | 15/08/2022

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) vừa bất ngờ cắt giảm lãi suất chủ chốt - lần cắt giảm thứ hai trong năm nay, và rút một lượng tiền mặt đáng kể khỏi hệ thống ngân hàng, trong nỗ lực phục hồi nhu cầu tín dụng để thúc đẩy nền kinh tế đang suy yếu do đại dịch Covid-19.

trung quoc bat ngo cat giam lai suat va rut thanh khoan khoi he thong ngan hang Thuế quan của Mỹ với hàng hóa Trung Quốc: Vẫn chưa rõ hướng đi nào tiếp theo
trung quoc bat ngo cat giam lai suat va rut thanh khoan khoi he thong ngan hang Trung Quốc không cố đạt mục tiêu tăng trưởng
trung quoc bat ngo cat giam lai suat va rut thanh khoan khoi he thong ngan hang
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC).

Chuyên gia kinh tế cho rằng các nhà chức trách Trung Quốc coi trọng việc hỗ trợ nền kinh tế đang trì trệ bất chấp sự khác biệt chính sách tiền tệ với các nền kinh tế lớn khác vốn đang tăng lãi suất mạnh mẽ.

PBOC đã giảm lãi suất từ 2,85% xuống 2,75% đối với 400 tỷ nhân dân tệ (59,33 tỷ USD) khoản vay trung hạn (MLF) kỳ hạn một năm của một số tổ chức tài chính.

"Việc cắt giảm lãi suất làm chúng tôi ngạc nhiên", Xing Zhaopeng, chiến lược gia cấp cao về Trung Quốc tại ANZ nói và lưu ý thêm rằng: "Đó là một hành động phản kháng sau dữ liệu tăng trưởng tín dụng yếu vừa công bố vào thứ Sáu tuần trước, khi chính phủ Trung Quốc vẫn coi trọng tăng trưởng và sẽ quyết theo đuổi mục tiêu GDP năm nay".

Số lượng các khoản cho vay mới ở Trung Quốc giảm nhiều hơn dự kiến ​​trong tháng Bảy, trong khi tăng trưởng tín dụng trên diện rộng chậm lại do dịch COVID-19 bùng phát mới, lo lắng về việc làm và khủng hoảng tài chính ngày càng sâu sắc khiến các công ty và người tiêu dùng cảnh giác với việc gánh thêm nợ.

PBOC cho rằng động thái của họ là "giữ cho thanh khoản hệ thống ngân hàng dồi dào một cách hợp lý". Và với các khoản vay MLF trị giá 600 tỷ nhân dân tệ đáo hạn, hoạt động này đã dẫn đến việc rút tiền ròng 200 tỷ nhân dân tệ.

Nhiều người tham gia thị trường đã dự đoán trước động thái này do hệ thống ngân hàng đã dư tiền mặt, với lãi suất liên ngân hàng dao động ở mức thấp nhất trong hai năm và liên tục thấp hơn lãi suất chính sách.

“Việc cắt giảm lãi suất 10 điểm phần trăm có thể được coi là tiền đề trước khi dư địa chính sách thu hẹp hơn trong tương lai, khi PBOC nhận thấy áp lực lạm phát tăng", Frances Cheung, chiến lược gia tại ngân hàng OCBC nói.

Trước đó, PBOC nhắc lại quan điểm điều hành trong báo cáo chính sách tiền tệ quý II/2022 rằng họ sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng và giữ thanh khoản "dồi dào hợp lý", đồng thời theo dõi chặt chẽ những thay đổi lạm phát trong và ngoài nước.

“Bất chấp cảnh báo về rủi ro lạm phát và tình trạng thanh khoản không ổn định, xu hướng không mấy khả quan ở lĩnh vực bất động sản và rủi ro suy thoái do COVID-19... đã khiến PBOC phải cắt giảm lãi suất để kích cầu”, trưởng chiến lược gia về ngoại hối châu Á tại Mizuho Bank, Ken Cheung nói.

Trong một tuyên bố khác, ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết họ đã "bơm" 2 tỷ nhân dân tệ thông qua các đợt repos đảo ngược 7 ngày, trong khi giảm lãi suất cho vay 10 điểm cơ bản xuống còn 2,0% từ 2,1%.

Trước đó, PBOC cũng đã giảm cả hai lãi suất nói trên 10 điểm cơ bản vào hồi tháng Giêng.

Đại Hùng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.575 23.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.553 23.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.555 23.845 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.570 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.592 23.967 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.860 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.540 23.995 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.350
51.250
Vàng nữ trang 9999
50.250
50.850