Tỷ giá sáng 17/1: Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ

10:18 | 17/01/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (17/1), trong khi tỷ giá trung tâm tăng trở lại sau hai phiên giảm liên tiếp thì giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 171 ty gia trung tam tang nhe Tỷ giá sáng 14/1: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm
ty gia ngay 171 ty gia trung tam tang nhe Điểm lại thông tin kinh tế ngày 13/1

ty gia ngay 171 ty gia trung tam tang nhe

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.085 đồng, tăng 3 đồng so với phiên trước. Như vậy tỷ giá trung tâm đã tăng trở lại sau khi giảm hai phiên liên tiếp trước đó với tổng mức giảm là 28 đồng.

ty gia ngay 171 ty gia trung tam tang nhe

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay ở mức 22.650 VND/USD đối với giá mua vào và giữ nguyên 23.150 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại hầu hết các ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước.

ty gia ngay 171 ty gia trung tam tang nhe

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.540 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 22.620 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở mức 22.800 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở mức 22.865 VND/USD.

ty gia ngay 171 ty gia trung tam tang nhe

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 95,201 điểm, tăng nhẹ 0,034 điểm (0,04%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tăng nhẹ khi các nhà đầu tư chuẩn bị cho cuộc họp sắp tới của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và tăng đặt cược rằng ngân hàng trung ương này sẽ lên được kế hoạch tăng lãi suất cho cả năm, trong khi Trung Quốc gây ngạc nhiên cho các nhà phân tích với việc cắt giảm lãi suất chuẩn.

Dữ liệu tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sẽ được công bố vào cuối ngày hôm nay; cuộc họp chính sách của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) sẽ kết thúc vào thứ Ba; dữ liệu lạm phát của Anh sẽ có vào thứ Tư; số liệu việc làm của Úc công bố vào thứ Năm sẽ là những thông tin được thị trường quan tâm nhất trong tuần, qua đó ước định triển vọng chính sách toàn cầu.

Sáng nay, bạc xanh tăng 0,18% so với yên Nhật lên mức 114,40 JPY/USD; trong khi euro đi ngang ở mức 1,1411 USD.

Các động thái này theo sau "bước nhảy vọt" của bạc xanh vào thứ Sáu trong bối cảnh lợi suất  trái phiếu Mỹ mạnh hơn, với trọng tâm hỗ trợ cho bạc xanh từ triển vọng lãi suất bất chấp động lực tăng của bạc xanh suy yếu.

“Động thái hôm thứ Sáu đưa đến hàm ý rằng động lực hỗ trợ đô la Mỹ đến từ triển vọng tăng lãi suất vẫn chưa suy yếu", người đứng đầu chiến lược ngoại hối Ray Attrill của Ngân hàng Quốc gia Úc nói.

Fed dự kiến sẽ nhóm họp trong hai ngày 25-26/1 và ​​sẽ không đưa ra quyết định điều chỉnh lãi suất, nhưng ngày càng có nhiều bình luận "diều hâu" từ cả bên trong và bên ngoài Fed.

Tuần trước, Giám đốc điều hành JP Morgan, Jamie Dimon đã nói rằng có thể có "sáu hoặc bảy" lần tăng lãi suất trong năm nay; trong khi nhà quản lý quỹ đầu cơ, tỷ phú Bill Ackman đã đăng trên Twitter vào cuối tuần về khả năng tăng 50 điểm cơ bản ngay từ lần đầu để kiềm chế lạm phát.

Đô la Úc và New Zealand sau khi đã giảm mạnh vào thứ Sáu thì nay vẫn đang chịu áp lực. Đô la Úc sáng nay đi ngang ở 0,7207 USD trong khi đô la New Zealand tăng nhẹ 0,07% ở 0,6802 USD.

Tại Trung Quốc, trái phiếu tăng giá và đồng nhân dân tệ trượt giá sau khi ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất cho vay của các khoản vay trung hạn, lần đầu tiên kể từ tháng 4/2020, trái ngược với kỳ vọng của thị trường.

Hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Mỹ đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 6/2020 sau động thái này, và đồng nhân dân tệ giao dịch ở mức 6,3555 CNY/USD.

Số liệu tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc (GDP) dự kiến ​​sẽ cho thấy mức tăng trưởng hàng năm chậm nhất trong 18 tháng do suy thoái của lĩnh vực bất động sản.

Ở nơi khác, sáng nay bảng Anh đi ngang ở 1,3773 USD nhưng trước đó đã giảm xuống gần mức trung bình động 200 ngày. Các nhà phân tích nói rằng đồng tiền này có thể tiếp tục tăng nếu dữ liệu lạm phát tiếp tục thúc đẩy ngân hàng trung ương tăng lãi suất.

“Các thị trường hiện đang dự báo 80% khả năng Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ tăng lãi suất 25 điểm cơ bản vào ngày 3/2", chiến lược gia Joe Capurso của Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia nói.

ty gia ngay 171 ty gia trung tam tang nhe

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700