Chỉ số kinh tế:
Ngày 30/9/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.627 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.396/26.858 đồng/USD. Kinh tế tháng 8/2026 ghi nhận nhiều chuyển động đáng chú ý khi IIP tăng 1,5% so với tháng trước, số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8 tăng 1,0%. Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có xu hướng giảm, với gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4%; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5%; 5.322 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1%, trong khi 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng, chi 238,1 nghìn tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1%; trong đó xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2%, nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1%, cán cân thương mại nhập siêu 0,12 tỷ USD. CPI tăng 0,47%, trong khi chỉ số giá vàng giảm 0,65% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38%. Vận tải hành khách đạt 658,6 triệu lượt khách, vận tải hàng hóa đạt 324,0 triệu tấn; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

Vai trò chủ lực của các ngân hàng thương mại Nhà nước trong đảm bảo an toàn hệ thống

Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 8/8/2018 đặt ra 2 mục tiêu tổng quát là Hiện đại hóa hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) theo hướng: có mô hình, cơ cấu tổ chức hợp lý; cơ chế vận hành đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả; phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có đầy đủ vị thế pháp lý và trách nhiệm giải trình và phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) an toàn, lành mạnh, giữ vai trò chủ chốt; bảo đảm ổn định tài chính, tạo tiền đề vững chắc cho việc hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
aa
NHTM Nhà nước đóng vai trò chủ lực trong việc huy động và phân bổ vốn tín dụng

Qua gần 8 năm triển khai, việc thực hiện mục tiêu Chiến lược đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, hệ thống tiền tệ, ngân hàng và hoạt động của các TCTD là huyết mạch của nền kinh tế, tiếp tục giữ vai trò trọng yếu trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam. Tính đến cuối năm 2025, quy mô tổng tài sản của hệ thống ngân hàng đạt gần 27,06 triệu tỷ đồng, tăng gần 93% so với năm 2020, cung ứng gần 2/3 tổng số vốn cung ứng của nền kinh tế. Tổng tài sản của hệ thống các TCTD chiếm tỷ trọng cao so với GDP (khoảng 199,13% năm 2024).

Quy mô vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của các TCTD không ngừng lớn mạnh qua các năm. Tính đến thời điểm 30/11/2025, tổng tài sản của toàn hệ thống đạt 27.058,3 nghìn tỷ đồng, tăng 92,9% so với năm 2020; Vốn chủ sở hữu của các TCTD tăng mạnh qua các năm, đạt 1.654,1 nghìn tỷ đồng, tăng 59,7% so với cuối năm 2020, trong đó vốn điều lệ/vốn được cấp cũng tăng nhanh, đạt 1.238,3 nghìn tỷ đồng, tăng 87,1% so với năm 2020. Năng lực quản trị, điều hành, quản lý rủi ro của các TCTD từng bước được nâng cao, tiệm cận thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, các mục tiêu tại Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025 đã đạt được những kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào kết quả thực hiện Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025. Chất lượng tín dụng được kiểm soát, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa xử lý và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu (không bao gồm NHTM yếu kém) được duy trì dưới 3%. NHNN cũng đã hoàn thành chuyển giao bắt buộc 4 ngân hàng yếu kém; giữ vững ổn định hệ thống các TCTD, củng cố niềm tin người dân, doanh nghiệp.

Những thành công trên là nhờ sự đóng góp rất lớn của nhóm các Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN) đóng vai trò chủ lực, chủ đạo về quy mô, về thị phần, đi đầu trong việc điều tiết, dẫn dắt thị trường và thực hiện các cơ chế, chính sách của nhà nước.

Cụ thể, đến cuối năm 2025, về quy mô hoạt động, các NHTMNN có quy mô tổng tài sản lớn nhất hệ thống (chiếm khoảng gần 41%, với tổng tài sản mỗi ngân hàng đều trên 2 triệu tỷ đồng). Nhờ mạng lưới hoạt động trải dài trên cả nước với 1.411 chi nhánh và 3.652 phòng giao dịch, các ngân hàng này giữ vai trò chủ lực trong việc huy động từ tổ chức, dân cư và cung ứng nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế (giai đoạn 2021 - 2025, tương ứng ở mức 43 - 44% toàn hệ thống).

Về năng lực tài chính và chất lượng tài sản, cả 4 NHTMNN (Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank) đều đã triển khai áp dụng các quy định của Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (đã được sửa đổi, bổ sung) và bắt đầu nghiên cứu triển khai Basel III theo quy định tại Thông tư số 14/2025/TT-NHNN ngày 30/6/2025. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đến tháng 11/2025 của các NHTM áp dụng Thông tư số 41/2016/TT-NHNN của nhóm NHTMNN là 10,31%. Từ năm 2021 đến nay, NHNN đã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt tăng vốn điều lệ cho các TCTD do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ từ ngân sách nhà nước cấp/từ lợi nhuận còn lại sau thuế, sau khi trích lập các quỹ với số tiền là 132.490 tỷ đồng, trong đó Agribank, Vietcombank, BIDV và VietinBank có vốn điều lệ tăng thêm lần lượt là 17.100 tỷ đồng, 46.468 tỷ đồng, 28.484 tỷ đồng, 40.438 tỷ đồng. Vietcombank, BIDV và VietinBank đã hoàn thành niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (HoSE). Đặc biệt, các ngân hàng này cũng luôn chú trọng cải thiện chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và nỗ lực tự xử lý nợ xấu bằng các biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ, sử dụng dự phòng rủi ro. Trong giai đoạn từ 2021 đến tháng 11/2025, nhóm 4 ngân hàng trên đã xử lý được 529,9 nghìn tỷ đồng nợ xấu (chiếm tỷ trọng 37,5% tổng nợ xấu đã xử lý của toàn hệ thống). Đến thời điểm 30/11/2025, cả 4 NHTMNN không còn nợ tại VAMC chưa xử lý. Vietcombank tiếp tục là ngân hàng duy trì chất lượng tài sản tốt nhất hệ thống, nợ xấu dưới 1% và được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đánh giá ngang trần quốc gia. Theo nhiều dự báo, đây có thể là ngân hàng Việt Nam đầu tiên chạm chuẩn Top 100 châu Á.

Về kết quả kinh doanh, các ngân hàng luôn đạt kết quả kinh doanh theo đúng kế hoạch đề ra. Lợi nhuận sau thuế năm 2024 đạt 103,3 nghìn tỷ đồng, tăng 113% so với năm 2020, chiếm 46% lợi nhuận của toàn hệ thống; tỷ lệ ROA và ROE tại thời điểm tháng 6/2025 đạt lần lượt là 0,83% và 12,72%; chênh lệch thu chi lũy kế trong 11 tháng năm 2025 đạt 114,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 49,2% chênh lệch thu chi của toàn hệ thống và tăng 14,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nhập từ hoạt động tín dụng là khoản mục chính trong cơ cấu thu nhập của nhóm này (88%). Năm 2025, VietinBank lần đầu tiên vượt mốc 100 tỷ USD tổng tài sản (tổng tài sản ước đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương với khoảng 105 tỷ USD), lợi nhuận trước thuế ước trên 41.000 tỷ đồng, tăng tới 37% - thuộc nhóm cao nhất hệ thống. BIDV tiếp tục giữ vị trí ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam, vượt 3,25 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 123 tỷ USD), với lợi nhuận trước thuế trên 36.000 tỷ đồng năm 2025. Agribank có tổng tài sản 2,6 triệu tỷ đồng, xấp xỉ 100 tỷ USD. Tổng tài sản của Vietcombank ước tính đạt khoảng 2,5 triệu tỷ đồng, tương đương với khoảng 95 tỷ USD. Với kết quả kinh doanh tăng cao so với năm 2020, các NHTMNN đóng góp vào ngân sách nhà nước với số dư đáng kể, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tính tới 30/11/2025 là 18,8 nghìn tỷ đồng.

Về việc tham gia hỗ trợ, xử lý các TCTD yếu kém, các NHTMNN luôn tích cực tham gia quá trình cơ cấu lại các TCTD yếu kém. Cuối năm 2024, NHNN đã ban hành Quyết định chuyển giao bắt buộc NHTM TNHH Xây dựng Việt Nam cho Vietcombank. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Vietcombank, Ngân hàng Xây dựng đã kiện toàn bộ máy nhân sự, cơ cấu tổ chức, quản trị và nhận diện thương hiệu mới. Theo đó, Ngân hàng Xây dựng đã đổi tên thành NHTM TNHH MTV Ngoại thương Công nghệ số - VCBNeo. Cơ cấu tổ chức, nhân sự của VCBNeo cũng được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ của Vietcombank cũng như thông lệ quản trị tiên tiến, trên cơ sở đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành về tổ chức, điều hành. Quá trình chuyển giao và cơ cấu lại đã giúp cho tình hình hoạt động VCBNeo có những chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu hoạt động đều tăng trưởng khá, bước đầu đã có lãi hoặc giảm lỗ so với cùng kỳ. Đến 31/8/2025, tổng tài sản của VCBNeo đạt 63.371 tỷ đồng, tăng 222% so với thời điểm chuyển giao bắt buộc, đạt 77% kế hoạch 01 năm thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc; dư nợ cho vay khách hàng (bao gồm tự thân và mua nợ) là 66.700 tỷ đồng, tăng 448% so với thời điểm chuyển giao bắt buộc, đạt 89% kế hoạch 01 năm thực hiện phương án chuyển giao bắt buộc, kết quả kinh doanh -334 tỷ đồng (cùng kỳ 1.991 tỷ đồng).

Kết quả này một lần nữa khẳng định được tính đúng đắn của quan điểm “các TCTD trong nước đóng vai trò chủ lực, chủ đạo trong việc huy động và phân bổ vốn tín dụng, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước” đặt ra tại Chiến lược phát triển ngành; tạo nền tảng, cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đặt ra cho các TCTD nhà nước tại Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.

Cơ hội và thách thức đan xen trong bối cảnh mới

Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” gắn với mô hình tăng trưởng mới, hướng tới khát vọng trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Đây vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức, trách nhiệm lớn đối với các NHTMNN - với vai trò đầu tàu, dẫn dắt hệ thống các TCTD Việt Nam.

Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã xác định mục tiêu: “Phấn đấu có ít nhất 3 NHTMNN thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 NHTMNN đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng”.

Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ cho quá trình chuyển đổi mô hình, chuyển dịch từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển và tăng trưởng theo chiều sâu, đẩy mạnh quản trị hiện đại, chuyển đổi số… Thêm vào đó, mục tiêu “phấn đấu thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản” cũng là áp lực đòi hỏi các NHTMNN phải rất nỗ lực. Theo số liệu cuối tháng 4/2025 tại báo cáo của S&P Global Market Intelligence, tổng tài sản của Top 5 ngân hàng lớn nhất Châu Á dao động từ 2,628.12 - 6,688.74 tỷ USD. Trong khi đó, đến cuối năm 2025 mới có 3 ngân hàng chạm hoặc vượt mốc 100 tỷ USD tổng tài sản gồm: VietinBank, BIDV và Agribank. Để đạt mục tiêu đề ra, trong vòng 5 năm tới, các NHTMNN sẽ vừa phải nỗ lực tăng quy mô, trong khi vẫn phải đảm bảo các chuẩn mực an toàn vốn, quản trị rủi ro và hiệu quả sinh lời.

Để Nghị quyết 79-NQ/TW không dừng lại ở chủ trương mà thực sự phát huy hiệu quả, điều kiện then chốt nằm ở thể chế hóa và tổ chức thực hiện. Theo đó, thời gian tới, cần tiếp tục lộ trình tăng vốn điều lệ cho các NHTMNN để nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động; Nghiên cứu cho phép các NHTMNN được áp dụng linh hoạt các hình thức tăng vốn như: giữ lại lợi nhuận sau thuế và sau trích lập các quỹ, bổ sung vốn từ nguồn thoái vốn nhà nước, phát hành riêng lẻ, phát hành cổ phiếu ưu đãi, kể cả cho người lao động.

Hiện nay, các NHTMNN vừa thực hiện hoạt động kinh doanh vừa thực thi các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ do Đảng, Chính phủ và NHNN giao phó. Để tránh chồng chéo trong việc thực hiện hai chức năng này, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù cho các NHTMNN và cơ chế phân định - bù đắp nhiệm vụ chính sách, để các NHTMNN thực thi vai trò điều tiết hệ thống một cách bền vững. Đồng thời, đổi mới cách thức đánh giá đối với các NHTMNN theo hướng bổ sung thêm các tiêu chí liên quan đến vai trò điều tiết thị trường, năng lực chống chịu rủi ro, mức độ hội nhập quốc tế và đóng góp cho ổn định kinh tế vĩ mô…

Các NHTMNN cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm của DNNNtrước yêu cầu phát triển của đất nước, vai trò đầu tàu trong ngành Ngân hàng. Đồng thời, cần áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao năng lực quản lý rủi ro; bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình; xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn diện; số hoá dịch vụ, dữ liệu, quản lý vốn theo thời gian thực; phát triển các dịch vụ ngân hàng số, mở rộng cung cấp sản phẩm tài chính trực tuyến đến mọi vùng miền của cả nước; tổ chức, sắp xếp mạng lưới để nâng cao hiệu quả hoạt động. Các NHTMNN phải xác định vốn là nền tảng chính sách để nâng cao khả năng ổn định thị trường, đáp ứng các chuẩn mực an toàn ngày càng cao, đồng thời tạo điều kiện thực thi vai trò điều tiết một cách chủ động và bền vững. Để tăng cường năng lực tài chính, cần thực hiện các giải pháp tăng vốn chủ sở hữu từ nguồn lực nội sinh và từ nguồn vốn bên ngoài. Ngoài ra, đầu tư có trọng điểm vào đội ngũ nhân sự với các cơ chế tuyển dụng, chi trả ưu việt để hình thành đội ngũ chất lượng cao đủ năng lực - đủ động lực - đủ trách nhiệm để thực hiện các mục tiêu chiến lược của tổ chức.

Trong giai đoạn vừa qua, các NHTMNN đã thể hiện được vai trò chủ đạo trong phát triển và ổn định hệ thống các TCTD tại Việt Nam, góp phần ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Thời gian tới, để thực hiện thành công mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 79-NQ/TW, ngoài sự chỉ đạo, hỗ trợ của cả hệ thống chính trị, bản thân từng NHTMNN sẽ phải nỗ lực hơn nữa để nâng cao năng lực tài chính, quản trị, chất lượng hoạt động, đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả; tiếp tục đóng vai trò chủ lực, chủ đạo trong việc huy động và phân bổ vốn tín dụng, cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

TS. Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, NHNN

Tin liên quan

Tin khác

Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng

Vẻ vang chặng đường lịch sử 75 năm của ngành Ngân hàng

NHNN Việt Nam vừa bổ sung nội dung lịch sử ngành Ngân hàng giai đoạn 2021 - 2026 và tái bản cuốn sách lịch sử 75 năm ngành Ngân hàng Việt Nam dưới dạng ấn bản điện tử.
Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng

Công đoàn Ngân hàng Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành Ngân hàng

Hoạt động công đoàn trong ngành Ngân hàng đã hình thành ngay từ những ngày đầu thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, sự ra đời của Công đoàn Ngân hàng Việt Nam (NHVN) vào năm 1993 là một dấu mốc mang tính bước ngoặt trong lịch sử xây dựng, phát triển và trưởng thành của ngành NHVN. Với tinh thần không ngừng đổi mới để thích ứng với bối cảnh mới, Công đoàn NHVN đã từng bước lớn mạnh, khẳng định vai trò là tổ chức đại diện tin cậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động; đồng thời đóng góp quan trọng vào sự phát triển ổn định, bền vững của toàn Ngành.
NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính

NHNN chi nhánh Khu vực 9: Thúc đẩy chuyển đổi số và cải cách hành chính

Năm 2025, với sự thay đổi lớn khi cả nước thực hiện tinh gọn bộ máy quản lý nhà nước, sáp nhập và vận hành mô hình chính quyền 2 cấp, tình hình kinh tế - xã hội của các tỉnh/thành phố khu vực miền Trung tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Trong những thành quả chung đó, sự đóng góp tích cực của ngành Ngân hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ngành Ngân hàng tại khu vực TP. Huế, Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi, NHNN chi nhánh Khu vực 9 (NHNN KV9) luôn giữ vai trò quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, bảo đảm dòng tiền lưu thông thông suốt và ổn định hệ thống tài chính trong khu vực.
Cải cách sâu rộng  để đảm bảo tăng trưởng cao  và chất lượng

Cải cách sâu rộng để đảm bảo tăng trưởng cao và chất lượng

Trong tiến trình hội nhập và phát triển của Việt Nam, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã trở thành một trong những đối tác phát triển gắn bó và quan trọng hàng đầu. Từ những năm đầu mở cửa nền kinh tế đến giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay, sự đồng hành của ADB không chỉ thể hiện qua các nguồn vốn tài trợ mà còn ở vai trò tư vấn chính sách, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ tri thức, góp phần định hình nền tảng phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước

Dòng vốn Agribank trong hành trình phát triển của đất nước

Nhìn lại chặng đường 75 năm phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam, dòng vốn tín dụng luôn gắn liền với những bước chuyển mình quan trọng của nền kinh tế. Trong dòng chảy đó, Agribank được ra đời vào ngày 26/3/1988, đúng vào thời điểm đất nước bắt đầu chuyển mình mạnh mẽ sang vận hành theo cơ chế thị trường.
Giám đốc WB phụ trách  Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ

Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào: NHNN đã khẳng định năng lực điều hành chính sách tiền tệ

Ngân hàng Thế giới (WB) đã đồng hành cùng quá trình phát triển của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, từ hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, thích ứng với biến đổi khí hậu đến cải cách thể chế và chia sẻ tri thức. Nhân kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Ngân hàng, Thời báo Ngân hàng đã có cuộc phỏng vấn với bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào.
Tạo dựng hệ thống ngân hàng  đủ mạnh trong  giai đoạn mới

Tạo dựng hệ thống ngân hàng đủ mạnh trong giai đoạn mới

Gần 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình vận hành theo cơ chế bao cấp, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững được đặt ra, vai trò của hệ thống ngân hàng không chỉ dừng ở đảm bảo cung ứng vốn mà đang từng bước chuyển sang định hướng và dẫn dắt dòng chảy vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước.
Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

Gia cố sức mạnh mềm xây dựng Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc

“Văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao, đảm bảo đồng bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”. Tinh thần mới của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã dần hiện hữu trong từng hoạt động của ngành Ngân hàng. Đặc biệt, Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW (Quyết định số 436/QĐ-NHNN), NHNN sẽ hội tụ toàn Ngành góp sức phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng vững chắc và sức mạnh nội sinh của Ngành và dân tộc.
Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân

Phát triển ngân hàng Việt Nam hiện đại, phụng sự nhân dân

Cải cách hành chính (CCHC) không phải là vấn đề mới trong hành trình phát triển của NHNN Việt Nam. Tuy nhiên, việc triển khai Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 theo Quyết định số 30/QĐ-TTg của Chính phủ và sau này là các chương trình CCHC tổng thể đã tạo ra bước chuyển quan trọng, mang đến làn gió mới cho CCHC. Cải cách không chỉ dừng ở việc tinh gọn bộ máy hay cắt giảm thủ tục, mà còn là sự thay đổi về tư duy từ "quản lý" sang "phục vụ". Sự chuyển đổi này đã kết nối toàn hệ thống ngân hàng thành một thể thống nhất, thông suốt từ điều hành chính sách tiền tệ đến cung ứng dịch vụ, góp phần cùng Chính phủ kiến tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi, minh bạch, đồng thời làm đậm thêm tính nhân văn, ưu việt trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa, “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Mở lối cho kinh tế tư nhân

Mở lối cho kinh tế tư nhân

Từ những khoản vay khởi nghiệp đến các gói tín dụng hàng trăm nghìn tỷ đồng, ngành Ngân hàng đang đóng vai trò “bệ đỡ” quan trọng đưa Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đi vào cuộc sống, tiếp thêm niềm tin và động lực cho khu vực kinh tế tư nhân vươn lên mạnh mẽ.