Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng khoảng 2,6 - 2,8% trong cả năm 2020

14:13 | 21/10/2020

Nếu việc kiểm soát dịch bệnh COVID-19 thuận lợi thì tăng trưởng kinh tế cả năm 2020 sẽ trong khoảng 2,0-2,8%, nhưng nếu đột ngột xuất hiện diễn biến bất lợi thì tăng trưởng chỉ khoảng 1,8-2%, thậm chí còn có thể thấp hơn - Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR dự báo.

Việt Nam là một trong số ít các quốc gia vẫn có được tăng trưởng dương nhưng VEPR nhận định, đây là mức tăng trưởng khiêm tốn, sản xuất kinh doanh vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, nguy cơ đại dịch có thể bùng mạnh trở lại vào mùa thu đông sẽ gây nhiều bất lợi nặng nề cho sản xuất và kinh doanh toàn cầu, ảnh hưởng này có thể còn kéo sang năm 2021.

Triển vọng kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào khả năng chống dịch trên thế giới và việc kiểm soát dịch bệnh trong nước.

viet nam co the dat muc tang truong trong khoang 26 28 trong ca nam 2020

Theo VEPR, Việt Nam đang gặp niều rủi ro và thách thức trong môi trường kinh tế thế giới đầy bất trắc. Bên cạnh đó là những điểm yếu và rủi ro nội tại của nền kinh tế vẫn còn đó như mất cân đối tài khóa lớn, tốc độ và mức độ đầu tư phát triển, đầu tư cho hạ tầng chững lại; Sức khỏe hệ thống ngân hàng – tài chính tuy được củng cố dần nhưng vẫn rất dễ bị tổn thương. Với tình hình dịch bệnh và các biện pháp phục hồi kinh tế được đưa ra chắc chắn Việt Nam phải chấp nhận bội chi ngân sách sẽ tăng, nợ công cũng sẽ tăng, tăng ở cả tỷ lệ nợ công/GDP lẫn tỷ lệ nợ công/ thu ngân sách.

Bên cạnh những tác động tiêu cực từ dịch bệnh thì vẫn còn những tồn tại yếu kém cũ của nền kinh tế. Đó là vẫn thiếu tự chủ công nghệ và nguyên liệu; Hiệu quả đầu tư công thấp; Chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh vẫn còn thấp; Tiến trình cổ phần hóa DNNN bị ngưng trệ.

Chưa hết, PGS.TS.Phạm Thế Anh – Trưởng nhóm nghiên cứu của VEPR lưu ý thêm, Việt Nam có nguy cơ trở thành thị trường tạm nhập tái xuất của Trung Quốc nhằm lách lệnh trừng phạt của Mỹ đối với hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc.

Nói về tương lai, VEPR đưa ra 2 kịch bản dự báo và cả 2 kịch bản này đều tin tưởng dịch bệnh được kiềm chế một cách tích cực ở trong nước cho đến hết năm 2020.

Ưu tiên hàng đầu là giữ ổn định môi trường kinh tế vĩ mô

Theo VEPR, nếu dịch bệnh được khống chế ổn định, hoạt động kinh tế nội địa dần trở lại bình thường, bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới có thể tái xuất hiện cục bộ trên quy mô nhỏ ở một số quốc gia, và mức độ tác động của COVID–19 lên các ngành nông lâm ngư nghiệp, sản xuất chế biến chế tạo và các ngành trong khu vực dịch vụ sẽ không nghiêm trọng hơn so với hiện tại thì kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng trong khoảng 2,6 - 2,8% trong cả năm 2020.

“Khả năng cao là kinh tế Việt Nam sẽ diễn ra theo kịch bản này”, PGS.TS.Phạm Thế Anh – Trưởng nhóm nghiên cứu của VEPR dự báo.

Nhưng theo VEPR, trong trường hợp bất lợi hơn đó là dù dịch trong nước vẫn được khống chế hoàn toàn trong thời gian còn lại của năm và hoạt động kinh tế dần trở lại bình thường nhưng dịch bệnh thế giới xấu đi, bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới tái bùng phát mạnh, các nước phải tái áp dụng các biện pháp phong tỏa thì kinh tế Việt Nam có thể chỉ tăng trưởng trong khoảng 1,8 - 2,0%.

Ở kịch bản bất lợi này, bệnh trong Quý 4 năm 2020 dẫn đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng và không có khả năng hồi phục trong năm 2020, kéo theo đó là sản xuất trong nước tăng trưởng yếu và các ngành khai khoáng phục vụ công nghiệp có khả năng thu hẹp.

Khi đó dịch vụ lưu trú và ăn uống không có động lực hồi phục do thiếu khách du lịch nước ngoài, trong khi nhu cầu trong nước với các loại hình dịch vụ này cũng bị hạn chế do tình hình kinh tế kém khả quan ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng.

Khuyến nghị chính sách VEPR cho rằng, cần kiên định với mục tiêu kép, tiếp tục thực hiện có thêm chính sách và giải pháp hỗ trợ sản xuất kinh doanh, kéo dài các gói hỗ trợ hiện nay, thúc đẩy đầu tư công, cắt giảm mọi gánh nặng có thể cho doanh nghiệp, đặc biệt không lãng quên cải cách, không nên tiếp tục hạ lãi suất.

Thuyết minh cho khuyến nghị không nên hạ lãi suất, ông Phạm Thế Anh lưu ý, từ đầu năm tới hết tháng 9/2020, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần hạ các công cụ lãi suất điều hành. Bên cạnh đó, gói hỗ trợ tín dụng 250 nghìn tỷ đồng vẫn đang được các ngân hàng thương mại triển khai.

“Do nguồn lực tài khóa hạn hẹp sau nhiều năm thâm hụt ngân sách, cùng với việc chính sách tiền tệ bị ràng buộc với các mục tiêu về lạm phát và tỷ giá, Việt Nam không thể theo đuổi các chính sách vĩ mô theo cách tương tự như các nước khác trên thế giới, ví dụ như nới lỏng tiền tệ quy mô lớn”, ông Phạm Thế Anh nêu quan điểm.

VEPR và các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên hàng đầu lúc này là đảm bảo an sinh xã hội, giữ ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, giảm mọi gánh nặng có thể cho doanh nghiệp như miễn giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp như lãi vay, tiền thuê đất, đặc biệt là ưu tiên cắt giảm kinh phí công đoàn (từ 2% quỹ lương xuống còn 1% ). Bên cạnh đó là các chính sách an sinh xã hội vẫn cần được ưu tiên hàng đầu và cần phải được tiếp tục triển khai nhanh chóng, đúng đối tượng, trước khi người dân rơi vào những bi kịch không đáng có. Chính sách cũng cần quan tâm hơn đến lao động trong khu vực phi chính thức bởi nhóm này chiếm một tỷ trọng lớn, dễ tổn thương, chịu tác động nặng nề nhất và đang khó tiếp cận các chính sách hỗ trợ.

“Dù đang rất khó khăn trong đại dịch và chống suy giảm kinh tế, phải thực hiện nhiều biện pháp để phục hồi kinh tế nhưng lúc này không nên lãng quên cải cách, không được bỏ qua cải cách. Phải tiếp tục các cải cách cơ bản để tạo nên động năng cho thời gian tới”, PGS.TS.Phạm Thế Anh nhấn mạnh.

Linh Ly

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.240 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.060 23.240 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.001 23.231 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.060 23.235 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.040 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.050 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.033 23.245 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.027 23.227 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.060 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.090 23.260 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
53.700
54.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
53.700
54.250
Vàng SJC 5c
53.700
54.270
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
53.050