Việt Nam phải đối mặt nhiều thách thức trong thập kỷ tới

18:16 | 25/11/2022

Việt Nam đã có sự phục hồi ngoạn mục sau COVID-19, tuy nhiên sự phục hồi đang có xu hướng chậm lại do những khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp. Đây là một trong những nhận định được đưa ra tại Hội thảo khoa học quốc tế “Các vấn đề đương đại trong Kinh tế, Quản trị và Kinh doanh” năm 2022 (CIEMB 2022) do trường Đại học Kinh tế quốc dân (NEU) tổ chức ngày 25/11 tại Hà Nội.

Thách thức chính sách kinh tế hậu Covid

Phát biểu tại Hội thảo, GS.TS Phạm Hồng Chương, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, đây là hội thảo quốc tế lớn nhất mà NEU tổ chức thường niên. Hội thảo nhằm tạo ra một diễn đàn cho các học giả trong nước và quốc tế từ nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau thuộc các ngành Kinh tế, Quản trị và Kinh doanh có cơ hội để trao đổi và trình bày các công trình nghiên cứu của mình, qua đó hỗ trợ các chiến lược kích thích tăng trưởng và phát triển bền vững.

“Nền kinh tế toàn cầu đã trải qua những thách thức và khó khăn to lớn chưa từng có do đại dịch COVID-19 trong 2 năm qua. Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều hệ lụy trong thời kỳ hậu đại dịch, có thể đe dọa đến sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Vì vậy, các vấn đề trong bối cảnh hậu COVID-19 là chủ đề chính của CIEMB 2022 với các bài phát biểu quan trọng và nhiều tham luận khác”, GS.TS Phạm Hồng Chương cho biết.

Tại phiên tổng thể của Hội thảo, ba diễn giả chính đã có những bài trình bày quan trọng. Trong đó, GS. Robert Breunig, Đại học Quốc gia Australia, trình bày về chính sách tài khóa COVID-19 tại Australia và bài học cho Việt Nam. GS. Alex Vanderstraeten, Đại học Ghent, Bỉ, thảo luận về quản lý nguồn nhân lực và tính bền vững thông qua bài trình bày “Một chương trình nghị sự mới cho quản lý nguồn nhân lực trong bối cảnh hậu đại dịch”. GS. Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế quốc tế cao cấp của UNDP, có bài trình bày sâu về các nút thắt thể chế trong tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam.

Theo GS. Jonathan Pincus, với độ mở lớn nền kinh tế Việt Nam đang chịu những tác động không nhỏ của từ những bất định và suy giảm của kinh tế toàn cầu.

“Dự báo trong năm tới, những tác động này sẽ tiếp tục khiến kinh tế VN vẫn khó khăn. Trong bối cảnh đó, cần có các giải pháp nỗ lực đa dạng hóa thị trường cho các DN, giảm thiểu nguy cơ đứt gãy trong chuỗi sản xuất”, GS. Jonathan Pincus đề xuất.

Bên cạnh đó trong trung và dài hạn chuyên gia này cho rằng, Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức lớn về phát triển trong những thập kỷ tới, đặc biệt liên quan đến biến đổi khí hậu; những bất định dai dẳng bên ngoài có thể có tác động đến thương mại, triển vọng tăng trưởng của Việt Nam; sự quản lý, phối hợp điều hành giữa cấp Trung ương với địa phương, giữa các cơ quan liên ngành, liên vùng… Và mấu chốt để giải quyết những vấn đề này là cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, thiết lập một hệ thống phân cấp thẩm quyền rõ ràng hơn, gắn với các chiến lược và kế hoạch và quy hoạch quốc gia.

CIEMB 2022 thu hút sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học trong nước và quốc tế. Hơn 130 bài nghiên cứu đã được gửi tới Hội thảo. Sau phiên tổng thể, đã diễn ra 16 phiên thảo luận song song về các chủ đề chuyên sâu của kinh tế, quản trị và kinh doanh, với sự chủ trì của các chuyên gia kinh tế hàng đầu của NEU và các diễn giả khách mời từ nước ngoài. Các nhà nghiên cứu, học giả đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu trong cả nước, cũng như từ các quốc gia khác trên thế giới như Anh, Úc, Bỉ, Ba Lan, Thái Lan, Pakistan, Brazil, Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc, Pháp, Nam Phi, Lào… đã có các bài trình bày và thảo luận tại các phiên thảo luận song song này.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700