Vốn không thiếu, khả năng hấp thụ đến đâu?

08:27 | 22/05/2020

Ngân hàng đang sẵn sàng cung ứng một lượng vốn giá rẻ cho nền kinh tế. Vấn đề là sức hấp thụ vốn của nền kinh tế đến đâu.

Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Xử lý dứt điểm các vướng mắc trong triển khai tháo gỡ khó khăn cho DN
Chính sách tháo gỡ khó khăn đã lan tỏa tới doanh nghiệp
Tác động của dịch bệnh Covid-19: Từ nền kinh tế… đến tài chính tiêu dùng

Quan trọng là sức hấp thụ vốn

Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng khẳng định, ngành Ngân hàng sẽ tạo mọi điều kiện để khôi phục nền kinh tế sau dịch. Ngoài cơ chế mở từ Thông tư 01/2020/TT-NHNN như không giới hạn ngành nghề và loại hình doanh nghiệp, áp dụng cả cho vay bằng VND và ngoại tệ; không phân biệt nhóm nợ của khách hàng tại thời điểm cơ cấu lại, miễn giảm lãi cũng như số lần khách được cơ cấu lại… NHNN có thể sẽ xem xét chủ trương kéo dài hơn thời gian cơ cấu lại nợ nếu cần thiết. Thậm chí, lãnh đạo NHNN để ngỏ về cơ chế mở có thể nới room tín dụng cho các ngân hàng.

DN phải có phương án hiệu quả, chứng minh được tính khả thi thì ngân hàng sẵn sàng cho vay

Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Phạm Thanh Hà cho biết, quan điểm điều hành chính sách tiền tệ xuyên suốt của NHNN là đảm bảo thanh khoản cho các TCTD cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ giảm lãi suất trong giai đoạn hiện nay trên cơ sở cân nhắc các yếu tố nền tảng kinh tế vĩ mô phù hợp, mục tiêu kiểm soát lạm phát và an toàn hoạt động của hệ thống TCTD. Theo đó, sau khi điều chỉnh lãi suất điều hành vào tháng 3/2020, để tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, người dân giảm chi phí vay vốn, NHNN quyết định tiếp tục giảm đồng bộ các mức lãi suất điều hành vào giữa tháng 5 vừa qua.

“Với việc giảm lãi suất điều hành cùng với việc quyết liệt chỉ đạo TCTD tiết giảm chi phí, giảm lợi nhuận sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho các TCTD giảm lãi suất cho vay một cách bền vững thời gian tới, góp phần tích cực giảm bớt khó khăn cho nền kinh tế”, ông Hà bày tỏ. Điều này cho thấy ngân hàng đang sẵn sàng cung ứng một lượng vốn giá rẻ cho nền kinh tế. Vấn đề là sức hấp thụ vốn của nền kinh tế đến đâu.

Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) Nguyễn Quốc Hùng cũng khẳng định, hiện các ngân hàng không thiếu tiền, vấn đề DN phải có phương án hiệu quả, chứng minh được tính khả thi thì ngân hàng sẵn sàng cho vay. Hiện tại ngành Ngân hàng đang chấp nhận giảm lợi nhuận từ giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ… để hỗ trợ DN phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng không phải là hỗ trợ vô điều kiện, cho vay vô tội vạ. “Nếu cho vay dễ dãi, DN dùng vốn vay để đảo nợ, sử dụng không hiệu quả, thì nợ xấu sẽ tăng vọt, ai sẽ chịu trách nhiệm?”, ông Hùng đặt vấn đề.

Theo đánh giá của TS. Lê Xuân Nghĩa – Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, hiện các DN đang gặp khó khăn do kinh doanh thu hẹp không có doanh thu, nhiều tài sản thế chấp nằm ở khoản nợ thế chấp đã vay ngân hàng... Nhưng không phải vì khó khăn như vậy rồi ép các ngân hàng hạ chuẩn tín dụng mà thay vào đó, hai bên cùng ngồi lại với nhau để đàm phán.

“Dịch Covid-19 không phải là vấn đề mang tính cấu trúc dài hạn mà chỉ là tai nạn ngắn hạn, nên ngân hàng không thể hạ chuẩn mực tín dụng mà xem xét trường hợp cụ thể giúp cho DN tồn tại cầm cự vượt qua khủng hoảng, sau đó mới tính tiếp được. Nếu không dẫn tới chuyện nợ xấu bùng lên khủng khiếp, vô cùng rắc rối cho hoạt động ngân hàng”, TS. Lê Xuân Nghĩa cảnh báo.

Liên quan đến vấn đề điều kiện tín dụng, Chủ tịch HĐQT VietinBank Lê Đức Thọ đề nghị, các DN cần xây dựng và triển khai các dự án thực sự khả thi, tập trung nguồn lực thực hiện có hiệu quả và cân đối được nguồn trả nợ, tận dụng cơ hội tái cấu trúc hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính, tăng cường tham gia chuỗi liên kết. DN cần ứng dụng công nghệ và minh bạch dòng tiền, tạo cơ sở để ngân hàng xem xét thay thế cho vay mới. Còn theo Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam Đặng Hồng Anh, chính sách cho vay của các ngân hàng là khá tốt, nhưng các DN phải có nhìn nhận từ hai phía. Các ngân hàng đã tung ra nhiều gói tín dụng hỗ trợ khách hàng, nhưng về thực tế, ngân hàng cũng là những DN, phải cân nhắc các rủi ro khi giãn nợ hay giảm lãi suất đều tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng.

Tín dụng tăng nhưng khó mạnh

Mặc dù NHNN gợi mở về khả năng nới room tín dụng nhưng giới chuyên môn nhận định, tín dụng khó tăng đột biến. Theo chia sẻ của TS. Cấn Văn Lực, hiện tại có một vài TCTD tăng trưởng tương đối nhanh trong những tháng đầu năm nên NHNN đưa ra chính sách tín dụng linh hoạt hơn, tức là TCTD nào tăng được tín dụng tốt mà vẫn kiểm soát được rủi ro thì sẽ được nới room. Nhưng theo vị chuyên gia này, hạn mức tăng trưởng tín dụng năm nay không phải là vấn đề lớn. Có thể cả năm 2020, toàn hệ thống ngân hàng tăng tín dụng khoảng 9-10% vì cầu yếu thấp hơn nhiều so với cùng kỳ.

Với việc NHNN tính nới room tín dụng, theo đánh giá của TS. Lê Xuân Nghĩa, sẽ giúp cho các ngân hàng linh hoạt trong cho vay tại nhiều phân khúc thị trường. Tuy nhiên, dù tín dụng trong thời gian tới sẽ tăng cao hơn so với những tháng đầu năm, nhưng khó có thể bật tăng mạnh. Vì kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều thị trường xuất khẩu, nhập khẩu mà thị trường bên ngoài gần như đang bị đóng băng khiến chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt đoạn. Để khắc phục khó khăn trước mắt, các DN cần phải hướng mạnh khai thác thị trường nội địa về du lịch, thương mại, dịch vụ... thị trường nội địa hiện cũng nhiều tiềm năng.

Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam Trương Gia Bình cũng gợi ý, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực có thể hấp thu nguồn vốn từ gói tín dụng này, bởi là lĩnh vực thiết yếu và tiềm năng tăng trưởng lớn trong bối cảnh dịch bệnh cũng như sau dịch. “Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam sẽ tích cực làm việc với các ngân hàng để thúc đẩy việc cấp vốn cho các DN hội viên trong thời gian tới, thông qua vai trò hiệp hội để tháo gỡ vấn đề “khó” cho các bên”, ông Bình thông tin thêm.

Còn Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Đặng Hồng Anh lưu ý đối với các DN, trong mùa dịch nếu không có kế hoạch hậu dịch phát triển công ty, thì vay ngân hàng sẽ trở thành gánh nặng cho chính DN, không khéo lại ảnh hưởng đến ngân hàng. “Tôi khuyên DNNVV chưa có kế hoạch tốt hậu dịch thì không nên vay. Bên cạnh đó, DN phải có kế hoạch sản xuất kinh doanh, chuẩn bị mọi điều kiện để khi dịch đi qua có thể bắt tay vào kinh doanh và phục hồi trở lại”, ông Đặng Hồng Anh chia sẻ quan điểm.

Từ những đánh giá trên có thể thấy, vấn đề tín dụng tăng trưởng được cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào dịch Covid kéo dài trong bao lâu. Nhưng giới chuyên môn cũng khuyến cáo, dù không để tín dụng tăng quá thấp nhưng cũng không nên kích tăng quá nhanh. Thực tế, tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn đang ở mức tương đối cao. Vì vậy, NHNN vẫn cần kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý phù hợp với sức hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.044 23.274 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.850
56.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.850
56.350
Vàng SJC 5c
55.850
56.370
Vàng nhẫn 9999
53.350
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.850
53.600