12:00 | 31/05/2019

Điều gì xảy ra khi đồng nhân dân tệ xuyên thủng ngưỡng 7?

Theo Citigroup Inc., việc NDT xuyên thủng ngưỡng tâm lý quan trọng này có thể kích hoạt động thái bán tháo cổ phiếu, phá giá cạnh tranh và thậm chí là bất ổn tài chính. Tuy nhiên Bank of America Merrill Lynch (BofAML) lại cho rằng, đồng NDT yếu hơn đã được chứng minh sẽ khiến tăng trưởng chậm hơn, song không có khả năng kích hoạt dòng vốn chảy ra lớn.

Đồng nhân dân tệ (NDT) đã giảm khoảng 2,5% kể từ đầu tháng 5 đến nay và đang hướng tới tháng giảm giá tồi tệ nhất kể từ tháng 7/2018 cũng như trở thành đồng tiền mất giá mạnh nhất ở châu Á. NDT đã rơi xuống mức thấp trong 5 tháng là 6,9217 NDT/USD vào tuần trước. Hiện một số chiến lược gia nhận thấy nguy cơ ngày càng lớn là chiến tranh thương mại leo thang có thể đẩy đồng NDT xuyên thủng ngưỡng 7 NDT/USD lần đầu tiên sau hơn một thập kỷ. Tuy nhiên, họ lại không đồng thuận về những hậu quả có thể xảy ra sau đó.

Ảnh minh họa

Theo Citigroup Inc., việc NDT xuyên thủng ngưỡng tâm lý quan trọng này có thể kích hoạt động thái bán tháo cổ phiếu, phá giá cạnh tranh và thậm chí là bất ổn tài chính. Tuy nhiên Bank of America Merrill Lynch (BofAML) lại cho rằng, đồng NDT yếu hơn đã được chứng minh sẽ khiến tăng trưởng chậm hơn, song không có khả năng kích hoạt dòng vốn chảy ra lớn.

Đây là lần thứ 3 ngưỡng tâm lý 7 NDT/USD được kiểm tra kể từ sau khi đồng tiền này bị phá giá mạnh vào năm 2015. “Điều khác biệt của lần này là sự gia tăng căng thẳng thương mại”, Claudio Piron - đồng lãnh đạo bộ phận chiến lược tiền tệ và tỷ giá châu Á tại BofAML cho biết. “Khi chúng ta xem xét tất cả các công cụ mà Trung Quốc có thể sử dụng, việc điều chỉnh đồng NDT là cách dễ nhất”.

Chuyên gia này nói thêm, đồng NDT có thể trượt xuống mức 7,13 nếu Trung Quốc và Mỹ mở rộng diện áp thuế lên hàng hóa khác của nhau. Tỷ lệ đặt cược việc NDT xuyên thủng ngưỡng 7 trong vòng một năm tới đã tăng gấp đôi trong tháng qua lên 38% sau sự lao dốc của đồng NDT gần đây, theo dữ liệu của Bloomberg.

Các yếu tố kinh tế cũng đang củng cố cho quan điểm về sự giảm giá của NDT. Theo đó, sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc đã mất đà trong tháng 4, do xuất khẩu giảm trong khi sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ cũng yếu hơn dự kiến. Trong khi đó, sự giảm giá của NDT được dự báo ít có khả năng kích hoạt dòng vốn chảy ra mạnh như những năm trước do nước này đã thắt chặt kiểm soát vốn.

Thế nhưng có một thực tế hiển hiện đó là khả năng can thiệp sẽ tăng lên khi NDT tiến sát ngưỡng 7. Theo đó chính quyền đã nhiều lần bán phá giá đồng USD cũng như làm cạn kiệt thanh khoản NDT ở nước ngoài trong những năm gần đây. Hiện các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc cũng liên tục lên tiếng trấn an thị trường. Đơn cử, cơ quan quản lý ngân hàng của Trung Quốc đã cảnh báo rằng các nhà đầu cơ sẽ hứng chịu tổn thất lớn nếu họ bán khống NDT, trong khi Thống đốc NHTW Trung Quốc (PBoC) cũng tuyên bố sẽ giữ tiền tệ ổn định. PBoC cho biết họ sẽ phát hành giấy tờ có giá tại Hồng Kông trong thời gian tới, một công cụ để hút bớt thanh khoản và củng cố đồng NDT ở nước ngoài. Các nhà hoạch định chính sách cũng thường xuyên ấn định tỷ giá tham chiếu mạnh hơn mức 6,9 cho dù tỷ giá thị trường yếu hơn mức đó trong hầu hết tuần qua.

“NHTW đang cố gắng làm dịu đà mất giá nhưng đây là điều không thể ngăn cản được bởi bất kỳ ai”, Linan Liu - một chiến lược gia vĩ mô lớn hơn của Trung Quốc tại Deutsche Bank AG cho biết. “Cần phải hiểu là tiền tệ cần phải thích ứng với rủi ro tài khoản vãng lai chuyển sang thâm hụt, tăng trưởng kinh tế chậm lại và dòng vốn đầu tư chậm hoặc chảy ra”.

Đồng NDT giảm đã khiến việc nắm giữ tài sản của Trung Quốc trở nên kém hấp dẫn hơn đối với người nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài đã bán hơn 50 tỷ NDT (7,2 tỷ USD) các cổ phiếu trong tháng 5, gấp hơn 3 lần so với mức 18 tỷ NDT của tháng trước đó, qua đó đẩy chỉ số Shanghai Composite Index giảm 5,3%, mức giảm hàng tháng lớn nhất kể từ tháng 10/2018.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590