08:35 | 02/05/2019

Điều hành CSTT phù hợp với các cân đối vĩ mô

Tiếp nối những thành công của năm 2018, NHNN đã triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), hoạt động ngân hàng, đạt được nhiều kết quả tích cực trong 4 tháng đầu năm 2019...

Quyết tâm cao vì những mục tiêu lớn
Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thúc đẩy tăng trưởng
NHNN sẽ tiếp tục điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng

Tỷ giá, thị trường ngoại tệ ổn định

Trên cơ sở chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng cả năm 2019 khoảng 14%, NHNN thực hiện phân bổ chỉ tiêu tín dụng cho các TCTD phù hợp với định hướng mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả, tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng.

Bên cạnh đó, kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ và có lộ trình phù hợp giảm dần cho vay bằng ngoại tệ; tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi đối với một số ngành, lĩnh vực đặc thù, nhất là đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu trong bối cảnh xuất khẩu có dấu hiệu tăng chậm lại, dịch bệnh chăn nuôi bùng phát.

Tính đến ngày 17/4/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,29% so với cuối năm 2018; huy động vốn tăng 2,69%; tín dụng đối với nền kinh tế tăng 3,23%, trong đó tín dụng bằng VND tăng 2,93%, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 7,62%.

Liên quan đến thị trường vàng, NHNN cho biết, thị trường vàng tiếp tục xu hướng tương đối ổn định, điều tiết tốt, nguồn vốn bằng vàng đang có xu hướng chuyển thành tiền hoặc các tài sản khác để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong khi đó, thị trường ngoại tệ, tỷ giá những tháng đầu năm tương đối ổn định nhờ nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối dồi dào, thanh khoản thị trường tốt, hệ thống các TCTD mua ròng ngoại tệ từ khách hàng.

Theo báo cáo của NHNN, tới ngày 18/4/2019, tỷ giá trung tâm ở mức 22.988VND/USD, tăng 0,71% so với cuối năm 2018. Lũy kế từ đầu năm đến 17/4/2019, NHNN mua được 8,35 tỷ USD từ các TCTD bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước.

Cũng trong quý I/2019, NHNN tiếp tục triển khai tích cực các giải pháp tại Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020”. NHNN đã hoàn thành việc phê duyệt phương án cơ cấu lại gắn với XLNX giai đoạn 2017 - 2020 của bốn NHTM nhà nước. Cơ quan điều hành cũng đã chỉ đạo các TCTD tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế phát sinh nợ xấu mới; tự XLNX bằng nhiều biện pháp.

Đến 31/1/2019, toàn hệ thống TCTD đã xử lý được 204,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42, đạt trên 40,7% tổng nợ xấu được xác định theo Nghị quyết số 42. Trong đó, XLNX nội bảng đạt 117,2 nghìn tỷ đồng.

Để triển khai các giải pháp đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và tăng cường đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán, NHNN đã trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các cơ chế, chính sách về hoạt động thanh toán đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực thanh toán. TTKDTM trong khu vực công không ngừng được thúc đẩy và mở rộng.

Tới nay, hệ thống IBPS đã hoàn thành kết nối thanh toán điện tử liên ngân hàng tại 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh; đã có khoảng 50 NHTM hoàn thành kết nối với hệ thống nộp thuế điện tử của Tổng cục Thuế trên 63 tỉnh/thành phố. Hiện đã có trên 76 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet và 41 tổ chức thực hiện qua điện thoại di động…

Thách thức còn nhiều

 Đánh giá thị trường thời gian tới, chuyên gia cho rằng, do độ mở của nền kinh tế nước ta rất lớn nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các diễn biến bất lợi của kinh tế thế giới. Mặc dù khả năng chống chịu của kinh tế trong nước đã được củng cố nhưng chưa thực sự vững chắc. Do đó, việc điều hành CSTT và thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô tiềm ẩn nhiều thách thức.

Lãnh đạo NHNN cho biết, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, thời gian tới NHNN sẽ tiếp tục bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính quốc tế và trong nước, điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2019 bình quân dưới 4%; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối.

Trong đó, trọng tâm là điều hành chính sách tín dụng phù hợp với các cân đối vĩ mô, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đảm bảo cung ứng đủ vốn cho tăng trưởng kinh tế gắn với nâng cao chất lượng tín dụng. Chỉ đạo TCTD tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tín dụng tiêu dùng; tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm kiểm soát cho vay ngoại tệ phù hợp với chủ trương chống đôla hóa nền kinh tế.

Trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ, NHNN tiếp tục thực hiện linh hoạt các giải pháp về lãi suất, kết hợp đồng bộ với các công cụ CSTT khác nhằm ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; củng cố dự trữ ngoại hối Nhà nước khi có điều kiện thuận lợi.

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án Cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với XLNX đến năm 2020, trong đó, tập trung xử lý hiệu quả các TCTD yếu kém; Đẩy mạnh XLNX theo cơ chế thị trường, phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống dưới 2%; tỷ lệ nợ xấu và các khoản tiềm ẩn trở thành nợ xấu dưới 5%. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của hệ thống các TCTD, hỗ trợ công tác cơ cấu lại các TCTD gắn với XLNX...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700