12:00 | 12/07/2019

Hà Nội đối mặt với việc thiếu hụt nguồn cung căn hộ cao cấp

Năm 2019 dự kiến sẽ đón nhận thêm nhiều nguồn cung mới trong các quý tiếp theo với phần lớn đến từ những phân kỳ sau của các dự án đã được mở bán từ trước.

Báo cáo thị trường bất động sản quý II/2019 của CBRE cho thấy, 6 tháng đầu năm nay, thị trường bất động sản Hà Nội ghi nhận có 17.700 căn hộ mở bán mới. Trong đó, quý II có 6.400 căn; phân khúc trung cấp và bình dân chiếm lĩnh thị trường, khoảng 98% tổng nguồn cung mở bán mới trong quý. Đáng chú ý, hoạt động mở bán tích cực và tiến độ xây dựng khả quan từ các dự án khu đô thị và dự án nhà ở riêng lẻ đã đóng góp vào doanh số bán hàng tích cực nửa năm 2019. Còn phân khúc cao cấp chỉ có 2 dự án mở bán mới, nằm tại khu vực Tây Hồ. Điều đó cho thấy thị trường địa ốc Hà Nội đang có nguy cơ đối mặt với việc thiếu hụt nguồn cung căn hộ cao cấp, hạng sang.

Ảnh minh họa

Giá bán trung bình trên thị trường sơ cấp của quý II được CBRE ghi nhận ở mức 1.337 USD/m2, tăng 4% theo năm; nhưng nếu so sánh cùng một rổ các dự án theo năm thì mức giá sơ cấp chỉ tăng nhẹ 1%. Đáng chú ý, phân khúc cao cấp có mức giá trung bình lên tới 2.345 USD/m2 - mức giá cao nhất ở phân khúc này trong vòng 5 năm trở lại đây.

CBRE cũng dự báo, lượng mở bán mới trong năm 2019 là khoảng trên 33.000 căn hộ và phân khúc trung cấp tiếp tục dẫn dắt thị trường, chiếm khoảng 70-80% tổng nguồn cung mở bán mới. Điều này cho thấy, thị trường Hà Nội vẫn hướng đến phân khúc người mua để ở. Bên cạnh đó, các sản phẩm khu đô thị gần đây cũng thu hút một bộ phận nhà đầu tư nội địa.

“Trong khi các quận nội thành đang trở nên đông đúc hơn, nguồn cung nhà ở dự kiến sẽ chuyển dịch ra xa dần bán kính 10 km từ khu vực trung tâm hiện hữu. Các dự án khu đô thị sẽ tập trung nguồn cung chính mang lại tiện ích đồng bộ và các sản phẩm đa dạng. Với hạ tầng ngày càng phát triển và những sự hợp tác gần đây giữa các tập đoàn lớn, các dự án này dự kiến sẽ thu hút sự chú ý của thị trường trong các năm sắp tới”, đại diện CBRE chia sẻ.

Lý giải việc thiếu hụt nguồn cung căn hộ cao cấp, ông Nguyễn Vĩnh Trân - Tổng giám đốc MIKGroup cho hay, để chuẩn bị cho một dự án cao cấp sẽ mất khoảng từ 1-2 năm nên nhiều chủ đầu tư rất e ngại về tiến độ thực hiện dự án. Tuy nhiên, thời gian gần đây các chủ đầu tư đã nhận thấy tiềm năng và nhu cầu ngày càng tăng của phân khúc cao cấp nên nhiều dự án thuộc phân khúc này đã được triển khai. Và theo ông Trân thì ít nhất 6 tháng nữa các dự án cao cấp này mới được tung ra thị trường.

Trong khi đó, ở thị trường nhà ở gắn liền với đất, trong nửa đầu năm 2019 ghi nhận con số ấn tượng cho nguồn cung mới khi đón nhận 3.241 căn mở bán, chủ yếu được đóng góp bởi nguồn cung mới dồi dào trong quý I. Doanh số bán hàng quý vừa qua cũng rất ấn tượng dù nguồn cung mở bán mới tăng cao, cho thấy các sản phẩm biệt thự, nhà phố được thị trường đón nhận tích cực. Khoảng 2.980 căn bán được trong 6 tháng/2019, cao hơn 14% so với tổng số căn bán được trong năm 2018. Đại diện CBRE chia sẻ: “Cải thiện giao thông nội thành tiếp tục thúc đẩy sự mở rộng nguồn cung nhà ở gắn liền với đất Hà Nội tới các địa điểm mới”.

Báo cáo cũng chỉ ra có sự thay đổi lớn về phân bổ vị trí trong nguồn cung mới với khu vực phía Đông hiện chiếm khoảng 80% tổng số căn mở bán trong 6 tháng đầu năm. Trong khi tổng nguồn cung vẫn chủ yếu đến từ khu vực phía Tây, sự chuyển dịch nguồn cung từ các quận trung tâm tới các quận ngoại thành ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Cơ sở hạ tầng tốt hơn không chỉ tạo điều kiện cho việc mở bán những dự án mới tại các khu vực mới, mà còn giúp hồi sinh các dự án trước đây gặp phải tiến độ thi công trì trệ.

Theo CBRE, trong quý II, giá biệt thự trung bình trên thị trường thứ cấp đạt 4.075 USD/m2 đất. Giá thứ cấp cho nhà liền kề cũng có những thay đổi tương đối nhỏ khi giá trung bình đạt 4.557 USD/m2, tăng 1,8% so với quý trước. Khoảng cách về giá thứ cấp giữa 2 loại sản phẩm được lý giải là do các dự án nhà liền kề quy mô nhỏ hơn thường nằm ở các quận nội thành dẫn đến giá cao hơn nhiều so với loại hình biệt thự.

Trong thời gian tới, theo đại diện CBRE, chất lượng sản phẩm cao, sự đồng bộ về quản lý cũng như mức độ uy tín của các chủ đầu tư vẫn là những yếu tố chính, ảnh hưởng lớn đến quyết định của cả nhóm khách hàng mua để ở và mua để đầu tư. Năm 2019 dự kiến sẽ đón nhận thêm nhiều nguồn cung mới trong các quý tiếp theo với phần lớn đến từ những phân kỳ sau của các dự án đã được mở bán từ trước.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.270 25.629 26.478 28.125 28.576 213,44 221,85
BIDV 23.150 23.270 25.641 26.373 28.143 28.621 217,83 223,39
VietinBank 23.128 23.270 25.611 26.406 28.069 28.709 217,40 223,40
Agribank 23.145 23.250 25.618 26.011 28.138 28.607 217,85 221,85
Eximbank 23.140 23.250 25.621 25.975 28.228 28.619 218,02 221,03
ACB 23.130 23.250 25.640 25.993 28.317 28.625 218,26 221,26
Sacombank 23.110 23.270 25.661 26.120 28.274 28.683 218,04 222,61
Techcombank 23.131 23.271 25.409 26.408 27.912 28.913 21,08 224,40
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.568 26.041 28.246 28.670 218,39 222,40
DongA Bank 23.160 23.250 25.640 25.970 28.210 28.590 215,30 221,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
42.450
42.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
42.450
42.850
Vàng SJC 5c
42.450
42.870
Vàng nhẫn 9999
42.350
42.950
Vàng nữ trang 9999
42.150
42.950