09:05 | 25/08/2014

Kinh doanh vàng trang sức: DN lớn có lợi thế

Ông Huỳnh Trung Khánh, Phó chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, những quy định mới về tuổi vàng của Bộ Khoa học và Công nghệ hiện đang là lợi thế đối với các DN quy mô và uy tín trên thị trường vàng.

Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Phó tổng giám đốc Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) - một DN hoạt động cốt lõi trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh vàng nữ trang, những quy định mới về quản lý chất lượng vàng trang sức của Bộ Khoa học và Công nghệ không những không ảnh hưởng đến doanh thu của DN mà còn là cơ hội cho những mặt hàng trang sức có thương hiệu như của PNJ tiêu thụ thuận lợi hơn.


Ảnh minh họa

Thực tế trong nhiều năm, hoạt động kinh doanh vàng trang sức không được quản lý chặt chẽ về tiêu chuẩn. Điển hình như sản phẩm vàng trang sức đóng mác 18K, theo tiêu chuẩn quốc tế phải có tỷ lệ vàng ròng 75%, nhưng tại các tiệm kim hoàn tỷ lệ này chỉ phổ biến ở mức 65-68%, thậm chí 54-60%. Người mua vàng trang sức vẫn “mua đâu bán đó”, nhưng nhiều lúc bị mất đến 40-50% giá trị.

Cho nên, khi các quy định về chất lượng vàng trang sức được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành (Thông tư 22/2013/TT-BKHCN quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường) thì thực tế chỉ khiến người tiêu dùng chú ý hơn về mặt chất lượng sản phẩm, tìm hiểu để có hướng bảo vệ quyền lợi của mình. Do việc kiểm tra chất lượng sản phẩm ở phía người mua không dễ dàng, nên các thương hiệu lớn được tin tưởng lựa chọn.

“Mặc dù kinh tế khó khăn nhưng chúng tôi dự báo doanh thu và lợi nhuận trang sức của công ty năm nay sẽ tăng đều 21%, đảm bảo cổ tức 20%”, bà Cúc cho hay. Các quy định siết chặt quản lý tuổi vàng dường như đang tạo thuận lợi kinh doanh cho một số thương hiệu vàng trang sức lớn như Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC), PNJ… Theo đó, nửa đầu năm 2014, lợi nhuận PNJ thu về nhờ lĩnh vực bán lẻ trang sức và biên lợi nhuận gộp đều tăng, trong đó phân khúc bán lẻ vàng trang sức tăng 24% so với cùng kỳ năm 2013.

Đại diện SJC cũng cho biết, mảng kinh doanh nữ trang vẫn đem lại lợi nhuận khá ổn định trong 2 quý đầu năm nay. Tuy không được đa dạng về sản phẩm, mẫu mã như một số thương hiệu nữ trang khác, nhưng sản phẩm trang sức vàng SJC được nhiều người lựa chọn, nhất là đối với khách hàng ở các tỉnh, thành.

Theo nhận định của CTCK Bản Việt, 6 tháng đầu năm 2014, kết quả kinh doanh của lĩnh vực bán lẻ nữ trang PNJ tăng là nhờ nỗ lực của ban lãnh đạo trong việc tái cấu trúc quy trình bán hàng và thiết kế sản phẩm, cũng như tối ưu hóa dòng sản phẩm và sản xuất lại các mẫu mã bán chạy...

Dự báo năm 2014, biên lợi nhuận gộp của phân khúc bán lẻ PNJ sẽ tăng 0,5% lên 28%, kết quả này có được là do phân khúc bán lẻ vàng trang sức tăng 0,8% lên 25,8% nhờ vào cơ cấu sản phẩm có biên lợi nhuận cao. Còn việc kinh doanh vàng miếng giảm nên tỷ trọng đóng góp của phân khúc này cho lợi nhuận gộp PNJ sẽ giảm từ 2,7% trong năm 2013 xuống 1,5% trong năm 2014. Theo đó, trong giai đoạn năm 2014-2018, doanh thu có tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm của PNJ là 15% nhờ lĩnh vực bán lẻ đạt 20%.

Ông Huỳnh Trung Khánh, Phó chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, những quy định mới về tuổi vàng của Bộ Khoa học và Công nghệ hiện đang là lợi thế đối với các DN quy mô và uy tín trên thị trường vàng. Những năm qua, các DN nữ trang lớn đang chiếm khoảng 20% thị phần, 80% nữ trang đang lưu hành trên thị trường thuộc về các công ty nhỏ lẻ và hàng nhập lậu rất khó kiểm soát. Nhưng, tình hình đó sẽ thay đổi trong thời gian tới.

Kim

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.755 22.825 26.511 26.828 30.109 30.591 204,27 208,58
BIDV 22.745 22.815 26.553 26.787 30.307 30.571 206,94 208,80
VietinBank 22.762 22.842 26.451 26.829 30.069 30.829 205,81 209,21
Agribank 22.740 22.820 26.546 26.867 30.239 30.661 205,39 208,59
Eximbank 22.740 22.830 26.345 26.688 30.093 30.484 206,75 209,44
ACB 22.760 22.830 26.282 26.765 30.096 30.572 206,26 210,05
Sacombank 22.767 22.850 26.409 26.771 30.186 30.551 206,86 209,95
Techcombank 22.735 22.835 26.254 26.972 29.874 30.712 205,19 210,67
LienVietPostBank 22.720 22.820 26.440 26.891 30.283 30.516 205,64 209,69
DongA Bank 22.760 22.830 26.350 26.700 30.050 30.510 205,20 209,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.580
36.750
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.580
36.730
Vàng SJC 5c
36.580
36.750
Vàng nhẫn 9999
36.030
36.430
Vàng nữ trang 9999
35.680
36.380