10:00 | 16/09/2019

Lãi suất âm không phải là lựa chọn của Fed

Nhiều nhà phân tích cũng cho rằng, với việc tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đang ở mức thấp nhất trong nửa thế kỷ và nền kinh tế vẫn đang tăng trưởng vững chắc, Fed khó có thể cắt giảm lãi suất xuống 0% chứ chưa nói gì là việc giảm thấp hơn. Thay vào đó, Fed có thể tìm đến các công cụ khác - chẳng hạn như mua trái phiếu với quy mô lớn - để thức đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tăng sức ép để Fed giảm lãi suất
Nhà Trắng coi Fed là thách thức số 1, thực tế không phải vậy
Chủ tịch Fed sẽ nói gì tại Jackson Hole?

Bất chấp việc ECB đã giảm thêm lãi suất xuống sâu hơn dưới 0%, bỏ qua cả những sức ép từ phía Tổng thống Mỹ Donald Trump, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell và các đồng nghiệp của ông không muốn đi theo con đường của châu Âu và Nhật Bản trong việc cắt giảm lãi suất xuống dưới 0%, ngay cả khi nhiều chuyên gia dự báo Fed có thể cắt giảm tiếp lãi suất một phần tư điểm vào tuần tới xuống còn 1,75% - 2% để đối phó với lạm phát yếu ớt và tăng trưởng toàn cầu chậm lại.

Nguyên nhân cũng bởi việc làm này không chỉ bị xem là bất hợp pháp, không đúng với nguyên tắc kinh tế và cũng không rõ hiệu quả của chính sách này thế nào.

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell

Thật vậy, trong một bản ghi nhớ vào tháng 8/2010, các nhân viên của Fed đã đặt câu hỏi liệu NHTW có thẩm quyền pháp lý để thiết lập lãi suất âm ở Mỹ hay không? Fed năm 2008 đã được Quốc hội cho quyền trả lãi cho số dư dự trữ của các ngân hàng thương mại gửi tại NHTW. Nhưng không rõ liệu có thể mở rộng quyền này trong việc thiết lập lãi suất âm đối với các khoản dự trữ đó hay không.

Trong bản ghi nhớ năm 2010, các nhân viên của Fed cũng đưa ra quan ngại về tác động của lãi suất dưới 0 đối với các ngân hàng và thị trường tiền tệ. Điều đó chính là nguyên nhân dẫn tới sự thận trọng của một số nhà hoạch định chính sách của Fed.

“Tôi không nhận thấy lãi suất âm là một công cụ hữu ích trong số các công cụ của chúng tôi”, Thống đốc Fed Lael Brainard cho biết trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình với Yahoo Finance hồi tháng 6.

“Fed đã nghiên cứu khả năng hạ lãi suất xuống dưới 0 trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 và nhận thấy nó (lãi suất âm) “không làm được gì”, Phó chủ tịch Fed Richard Clarida nói tại một sự kiện của NHTW Pháp hồi tháng 3.

Trong khi Chủ tịch Fed Dallas Robert Kaplan hồi tháng 2 khi được hỏi về khả năng giảm lãi suất xuống dưới 0% của Fed cũng đã trả lời rõ ràng rằng “Tôi nghi ngờ liệu đó có phải là một lựa chọn khả thi”. “Nỗi lo lớn” là “những tác động đến hệ thống tài chính và liệu nó có khiến các trung gian tài chính thực sự lành mạnh và hoạt động tốt”, ông nói tại một sự kiện ở Dallas.

Nhiều nhà phân tích cũng cho rằng, với việc tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đang ở mức thấp nhất trong nửa thế kỷ và nền kinh tế vẫn đang tăng trưởng vững chắc, Fed khó có thể cắt giảm lãi suất xuống 0% chứ chưa nói gì là việc giảm thấp hơn. Thay vào đó, Fed có thể tìm đến các công cụ khác - chẳng hạn như mua trái phiếu với quy mô lớn - để thức đẩy tăng trưởng kinh tế.

Lãi suất âm “nằm ở dưới cùng trong danh sách những việc họ (Fed) sẽ làm”, Jonathan Wright - cựu chuyên gia kinh tế của Fed và hiện đang là Giáo sư của Đại học Johns Hopkins cho biết.

Lợi ích là rất hạn chế, trong khi sự sụp đổ chính trị như việc ông Trump đảo ngược quan điểm có thể rất lớn. Còn nhớ khi giảm lãi suất xuống mức 0 - 0,25% trong năm 2008 và giữ chúng ở mức này trong 7 năm sau đó, Fed thường xuyên bị các nhà lập pháp chỉ trích vì khiến những người tiết kiệm quay lưng.

Nhiều nhà kinh tế cũng cho rằng nếu cắt giảm lãi suất xuống quá thấp có thể gây tổn hại cho nền kinh tế do các ngân hàng bị bào mòn lợi nhuận dẫn tới việc hạn chế cho vay.

“Lãi suất âm chắc chắn sẽ tàn phá lợi nhuận của các ngân hàng”, Fred Cannon - Giám đốc nghiên cứu tại Ngân hàng đầu tư Keefe, Bruyette & Woods cho biết. Mặc dù vậy theo ông, các ngân hàng của Mỹ có thể chịu thiệt hại ít hơn so với các đối tác của họ ở châu Âu và Nhật Bản. Đó là vì họ ít nắm giữ các khoản vay thế chấp và các khoản cho vay doanh nghiệp có lợi suất thấp trên bảng cân đối kế toán của mình.

Có thể nói Fed đang phải đối mặt với một “câu hỏi quan trọng” theo cách nói của Chủ tịch Fed Jerome Powell: Làm thế nào có thể quản lý tốt nhất những thăng trầm của nền kinh tế trong một thế giới có lãi suất thấp hơn. Nhưng rõ ràng lãi suất âm không phải là lựa chọn có nhiều khả năng trong chương trình nghị sự của Fed, Michael Feroli – chuyên gia kinh tế trưởng về Mỹ của JPMorgan Chase & Co.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590