08:49 | 24/06/2019

Lạm phát yếu là lý do chính để Fed giảm lãi suất

Lạm phát yếu đang đặt ra trước các nhà hoạch định chính sách của Fed một vấn đề lớn hơn, nó không chỉ kiểm tra sự hiểu biết của họ về nền kinh tế mà còn cả uy tín của Fed.

Giá vàng: Mơ về nơi… xa lắm

Tháng 6/2018 có thể là tháng tươi đẹp nhất đối với Fed khi mà kinh tế Mỹ đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, tỷ lệ thất nghiệp thấp và lạm phát dự kiến sẽ đạt được mục tiêu 2% của Fed trong năm – rất thuận lợi để Fed tiếp tục tăng lãi suất ngay sau đó và tăng thêm 2 lần nữa trong 6 tháng sau.

Ảnh minh họa

Nhưng kể từ đó, lạm phát giảm xuống mức “khó chịu” và Fed đã thay đổi quan điểm với việc có thể cắt giảm lãi suất ngay trong năm nay. Mặc dù thương mại và tăng trưởng toàn cầu có thể được Chủ tịch Fed Jerome Powell dẫn ra như là lý do khiến ông và các đồng nghiệp của mình thay đổi kỳ vọng cũng như quan điểm chính sách. Song chính sự giảm tốc mạnh của lạm phát mới là nỗi lo lớn hơn đối với khi mà hiện chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE) – thước đo lạm phát ưa thích của Fed chỉ đạt 1,5% trong năm nay và duy trì ở mức dưới 2% cho tới hết năm 2020.

“Tôi nghĩ rằng họ rất lo lắng và có lý do chính đáng để tin rằng điều này theo thời gian có thể dẫn đến sự sụt giảm kỳ vọng, và làm cho việc thúc đẩy lạm phát trong tương lai khó khăn hơn”, Nathan Sheets - nhà kinh tế trưởng của PGIM Fixed Profit và một cựu nhân viên của Fed cho biết. Mặc dù triển vọng thương mại không ổn định, “nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy lạm phát sẽ đạt mục tiêu - “2% khi chính sách (thương mại) thông suốt và ổn định”. Nó không phải là điều chắc chắn sẽ xảy ra”.

Sau nhiều tuần các thị trường phản ứng với các mối đe dọa thuế quan mới từ Nhà Trắng và định giá việc cắt giảm lãi suất của Fed vào giá trái phiếu Kho bạc, Fed hôm thứ Tư đã phát đi tín hiệu rằng họ đã sẵn sàng cắt giảm lãi suất. Các dự báo mới cho thấy hầu hết các nhà hoạch định chính sách của Fed đã cắt giảm khoảng một nửa điểm phần trăm trong dự báo của mình về mức lãi suất cho vay qua đêm phù hợp vào cuối năm 2019.

Lạm phát yếu đang đặt ra trước các nhà hoạch định chính sách của Fed một vấn đề lớn hơn, nó không chỉ kiểm tra sự hiểu biết của họ về nền kinh tế mà còn cả uy tín của Fed. Kể từ khi đề ra mục tiêu lạm phát 2% vào năm 2012, Fed luôn tuyên bố rằng họ sẽ đạt được mục tiêu này trong trung hạn. Thế nhưng cho đến nay, ngoại trừ một thời gian khá ngắn trong năm 2018, lạm phát vẫn nằm dưới mức mục tiêu này.

Phát biểu tại cuộc họp báo sau khi kết thúc cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày hôm thứ Tư (19/6), Chủ tịch Fed Jerome Powell lưu ý, nguy cơ lạm phát yếu có thể “dai dẳng” thay vì việc mô tả về lạm phát yếu trước đây chỉ là “tạm thời”.

Cụ thể, sau khi đạt đỉnh 2,1% trong các dự báo kinh tế được ban hành vào tháng 9/2018, triển vọng lạm phát PCE đã giảm trong mỗi dự báo hàng quý kể từ đó. Thực tế đó đang đặt ra một câu hỏi là liệu việc Fed tăng lãi suất 4 lần vào năm ngoái có phải là một sai lầm đã cản trở tiến trình đạt được mục tiêu lạm phát. “(Lạm phát yếu) có thể có nghĩa là họ (Fed) đã thắt chặt quá sớm”, Vincent Reinhart - nhà kinh tế trưởng tại Mellon nói.

Nó cũng có thể chấm dứt chu kỳ tăng lãi suất của Fed khi mà lần đầu tiên sau khoảng một thập kỷ, lãi suất đã thực sự vượt lên trên lạm phát và trở thành “thực dương” trên thực tế.

Fed đã đạt được cột mốc đó vào tháng 9 khi lãi suất cho vay qua đêm chuẩn được nâng lên mức từ 2% đến 2,25%, trong khi lạm phát ở mức khoảng 2%. Thời điểm đó, Fed cho rằng nền kinh tế đủ mạnh để hỗ trợ lãi suất thực trên 0 và cần tiếp tục bình thường hóa chính sách tiền tệ để tài khoản tiết kiệm thông thường có thể tạo ra lợi nhuận thực dương. Tuy nhiên, lạm phát liên tục sụt giảm kể từ đó, có nghĩa là lãi suất thực tế đang tăng lên, có nghĩa các điều kiện tài chính được thắt chặt nhanh hơn và mạnh hơn so với dự định của Fed.

Bởi vậy theo Reinhart, việc cắt giảm lãi suất sắp tới cũng có thể chỉ là cách điều chỉnh chính sách của Fed. “Nếu ông (Powell) có thể coi đây là việc điều chỉnh lãi suất danh nghĩa trong bối cảnh môi trường lạm phát thấp, thì điều đó ít gây sốc hơn”, Reinhart nói.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820