10:20 | 12/02/2019

Nhiều quốc gia ASEAN khởi đầu năm 2019 đầy khó khăn

Đó là nhận định của David Owen, chuyên gia kinh tế tại IHS Markit - công ty thu thập kết quả khảo sát chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất ASEAN của Nikkei.

Theo David Owen, trong tháng 1/2019, các nhà sản xuất có số lượng đơn đặt hàng mới giảm và tăng trưởng sản lượng chậm lại so với tháng 12/2018.

“Tình trạng căng thẳng thương mại trên thế giới đã làm số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu giảm tháng thứ sáu liên tiếp”, chuyên gia này cho biết.

Cụ thể, theo khảo sát PMI, các nhà sản xuất của ASEAN cho biết các điều kiện kinh doanh đã suy giảm nhẹ trong tháng 1. Chỉ số chính PMI giảm từ 50,3 điểm của tháng 12 còn 49,7 điểm trong tháng 1 báo hiệu các điều kiện hoạt động của ngành sản xuất đã kém đi vào đầu năm 2019. Đây là lần suy giảm thứ hai trong bốn tháng, với sáu trong số bảy quốc gia khảo sát có kết quả PMI giảm.

Bảng xếp hạng các quốc gia cho thấy Phillipines có kết quả PMI cao nhất trong tháng 1, mặc dù sản lượng tăng trưởng chậm hơn so với tháng 12. Việt Nam và Myanmar cũng có sự cải thiện yếu hơn về các điều kiện hoạt động chung, cùng đứng ở vị trí thứ hai.

Đáng chú ý là số lượng đơn đặt hàng mới đã tăng chậm nhất trong gần hai năm rưỡi ở Việt Nam.

Thái lan đứng vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng khi các điều kiện kinh doanh hầu như không thay đổi vào thời điểm đầu năm. Tăng trưởng sản lượng vẫn ở mức khiêm tốn, nhưng số lượng đơn đặt hàng mới đã không tăng.

Sức khỏe của lĩnh vực sản xuất Indonesia ít thay đổi với chỉ số chính PMI nằm dưới ngưỡng trung bình 50.0 điểm một chút.

Malaysia đứng thứ sáu trong bảng xếp hạng trong tháng 1 khi các điều kiện hoạt động suy giảm tháng thứ tư liên tiếp. Các nhà sản xuất Malaysia cũng có chi phí đầu vào giảm lần đầu tiên trong bốn năm.

Singapore đứng vị trí cuối cùng khi sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới giảm đáng kể.

Tăng trưởng sản lượng của các nhà sản xuất ASEAN tiếp tục chậm lại thành mức yếu thứ nhì trong 12 tháng (chỉ sau tháng 10/2018). Indonesia, Malaysia và Singapore đều có sản lượng thấp hơn, trong khi Myanmar có sản lượng tăng nhanh nhất.

Tình trạng suy giảm diễn ra khi doanh số bán hàng giảm do tác động của sự suy giảm nhu cầu ở thị trường nước ngoài trong khu vực. Số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu đã giảm trong sáu tháng liên tiếp. Chỉ có Thái lan và Việt Nam tiếp tục có số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài tăng. Các nhà sản xuất đáp lại bằng cách giảm hoạt động mua hàng hóa đầu vào và giảm hàng tồn kho trong tháng 1.

Hơn nữa, tăng trưởng việc làm đã tạm dừng sau thời kỳ tăng trưởng dài nhất trong lịch sử chỉ số. Những doanh nghiệp có việc làm giảm cho rằng nguyên nhân là do yêu cầu sản xuất giảm và do người lao động nghỉ việc. Việt Nam có mức tăng số lượng việc làm mạnh nhất và Singapore có mức giảm mạnh nhất.

Giá cả đầu ra trong tháng 1 tăng yếu nhất trong hơn hai năm. Một phần nguyên nhân là do số lượng đơn đặt hàng mới giảm. Trong khi đó, chi phí đầu vào vẫn tăng nhưng tốc độ tăng chậm lại, do giá nguyên vật liệu và giá dầu trên thế giới giảm vào thời điểm đầu năm.

“Việc này có thể làm giảm áp lực lên biên lợi nhuận, đặc biệt sau khi chi phí tăng mạnh trong suốt năm 2018…”, David Owen nói.

Mặc dù các điều kiện kinh doanh chung đã giảm, mức độ lạc quan về triển vọng 12 tháng tới đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 5 năm ngoái. Nhìn chung, các công ty kỳ vọng số lượng đơn đặt hàng mới sẽ tăng trở lại và tăng trưởng sản lượng sẽ cao hơn trong năm 2019. Philippines có mức độ lạc quan cao nhất, trong khi Myanmar có mức độ lạc quan thấp nhất.

Tuy nhiên theo David Owen, số lượng đơn đặt hàng mới có thể sẽ vẫn giảm khi chi tiêu trong nước không tăng và nhu cầu ở nước ngoài chưa hồi phục.

Nguồn :

Tags:
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.340 25.954 26.814 27.989 28.437 212,68 221,06
BIDV 23.220 23.340 25.920 26.666 27.952 28.431 216,57 222,10
VietinBank 23.203 23.333 25.895 26.690 27.890 28.530 216,31 223,31
Agribank 23.215 23.320 25.926 26.322 27.971 28.438 216,98 220,95
Eximbank 23.210 23.320 25.936 26.295 28.055 28.443 217,30 222,30
ACB 23.190 23.310 25.901 26.258 28.136 28.452 217,28 220,27
Sacombank 23.183 23.343 25.947 26.406 28.089 28.498 216,47 221,03
Techcombank 23.195 23.335 25.700 26.561 27.733 28.593 216,30 223,68
LienVietPostBank 23.205 23.325 25.886 26.368 28.087 28.521 217,36 221,90
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.250
42.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.250
41.600
Vàng SJC 5c
41.250
41.620
Vàng nhẫn 9999
41.250
41.750
Vàng nữ trang 9999
40.800
41.600