12:00 | 15/05/2019

Những thay đổi chính sách từ Fed

Kể từ đầu năm 2019 đến nay, định hướng điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã có nhiều thay đổi.

Đa số công ty lớn của Mỹ đánh giá lãi suất đang hợp lý
Lợi suất trái phiếu Mỹ tăng sau bình luận lạm phát của Fed
Fed giữ nguyên lãi suất và sẽ 'án binh bất động' trong thời gian tới

Thay vì tiếp tục xu hướng bình thường hóa thông qua tăng lãi suất và thu hẹp bảng cân đối tài sản như đã thực hiện trong năm 2018, Fed đã chuyển sang một trạng thái điều hành CSTT mang tính trung lập hơn.

Ảnh minh họa

Cụ thể, định hướng điều hành CSTT của NHTW Mỹ Fed trong cuộc họp diễn ra vào tháng 3 đã thể hiện 3 nội dung chính: Fed sẽ không tăng lãi suất trong năm 2019; bác bỏ toàn bộ các dự báo về việc tăng lãi suất trong năm 2019 đã đưa ra trước đây; và sẽ kết thúc chương trình cắt giảm số dư trên bảng cân đối kế toán vào cuối tháng 9/2019.

Sự thay đổi trong quan điểm điều hành CSTT của Fed xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu đang ngày càng hiện hữu, đe dọa đà phục hồi của kinh tế Mỹ. Bên cạnh đó, xu thế bình thường hóa CSTT của Fed đã kéo theo sự gia tăng mạnh vị thế của đồng USD trong giai đoạn vừa qua, từ đó tạo các áp lực lên NHTW tại các quốc gia mới nổi và đang phát triển, khiến NHTW các nước này phải tăng lãi suất để giải cứu đồng nội tệ và khiến thanh khoản toàn cầu bị thắt chặt hơn.

Tuy nhiên, một lý do quan trọng khiến Fed phải thay đổi định hướng chính sách điều hành lại xuất phát từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Quá trình leo thang căng thẳng thương mại và việc áp dụng thuế quan đã biến câu chuyện này thành một mối lo thường trực đối với đà tăng trưởng kinh tế của Mỹ.

Giới phân tích cho rằng, việc giá cả gia tăng do thuế có thể chỉ là yếu tố tạm thời, và Fed có khả năng sẽ bỏ qua điều này. Tuy nhiên, tác động lớn hơn từ việc tăng thuế là nó có thể sẽ gây ảnh hưởng lớn đến chi tiêu tiêu dùng và kìm hãm tăng trưởng kinh tế; đặc biệt nếu căng thẳng thương mại tiếp tục leo thang và chính quyền của Tổng thống Trump hiện thực hóa lời đe dọa tăng thuế đối với khối lượng hàng hóa còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá đến 325 tỷ USD.

Theo khảo sát của Bloomberg với các nhà kinh tế học, việc Mỹ áp thuế với Trung Quốc có thể tác động đến tăng trưởng ngay trong quý II. Cụ thể, tổ chức này ước tính tăng trưởng quý II có thể chỉ còn khoảng 2%, từ dự báo 2,6% trước đó.

Trong khi đó, theo ước tính của Stanley, đợt tăng thuế mới nhất có thể khiến GDP Mỹ mất 0,2% năm nay. Con số này cũng khớp với các dự báo của Oxford Economics, Societe Generale và Morgan Stanley, với mức giảm 0,1% - 0,3%, một phần dựa trên kịch bản Trung Quốc trả đũa bằng việc nâng thuế tương tự.

Các chuyên gia cho rằng, tác động của các quyết định về thuế mới sẽ ảnh hưởng trực tiếp vào tình hình lạm phát. Citigroup và nhiều tổ chức khác đã dự báo giá cả tại Mỹ sẽ tăng nhẹ.

Kinh tế Mỹ vốn đã có nhiều số liệu trái chiều và khó đánh giá bức tranh tổng thể. GDP quý I của nước này tăng mạnh hơn dự báo, do các công ty đẩy mạnh hoạt động để tránh hạn chót thuế Mỹ áp với Trung Quốc. Tuy nhiên, giới chuyên gia đều đánh giá, dựa vào các yếu tố nền tảng, tăng trưởng của Mỹ đang có xu hướng yếu đi.

Với mức thuế mới 25% mà Washington vừa chính thức đánh vào 200 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, các thị trường đang đánh cược rằng từ nay đến tháng 12/2019, Fed sẽ giảm lãi suất 0,25 điểm phần trăm để ngăn chặn đà giảm tốc của nền kinh tế. Trên thực tế, Chủ tịch Fed Atlanta - Raphael Bostic đã cho biết Fed có thể giảm lãi suất nếu việc tăng thuế khiến chi tiêu tiêu dùng giảm mạnh.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.550
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.550
41.850
Vàng SJC 5c
41.550
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.530
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850