15:43 | 03/12/2018

PMI tháng 11 tiếp tục tăng cao, đạt 56,5 điểm

Xu hướng tăng điểm tiếp tục được ghi nhận trong tháng 11/2018 với Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam của Nikkei, do sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh và nhanh; việc làm tăng ở mức kỷ lục; và hàng tồn kho tăng ở mức chưa bao giờ thấy.

PMI toàn phần lĩnh vực sản xuất Việt Nam của Nikkei - một chỉ số tổng hợp về kết quả hoạt động của ngành sản xuất - đã tăng từ mức 53,9 điểm của tháng 10 lên 56,5 điểm trong tháng 11, cho thấy sự cải thiện mạnh mẽ của sức khỏe lĩnh vực sản xuất.

Trên thực tế, các điều kiện kinh doanh đã mạnh lên với tốc độ nhanh thứ nhì trong lịch sử khảo sát, chỉ kém mức kỷ lục được ghi nhận trong tháng thu thập dữ liệu đầu tiên (cách đây 7 năm).

Lĩnh vực sản xuất hàng hóa tiêu dùng có kết quả hoạt động mạnh nhất trong số ba lĩnh vực thị trường được khảo sát trong kỳ gần nhất, với sản lượng, số lượng đơn đặt hàng mới và việc làm tăng mạnh nhất.

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh trong tháng 11, với tốc độ tăng đã nhanh hơn tháng thứ hai liên tiếp. Trong khi đó, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng với tốc độ đáng kể như tổng số lượng đơn đặt hàng mới.

 Số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh đã khuyến khích các nhà sản xuất tăng sản lượng. Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng sản lượng đã nhanh hơn trở thành mức nhanh nhất kể từ tháng 3/2011.

Sản lượng cũng có chiều hướng tiếp tục tăng trong năm tới khi nhu cầu mạnh lên đã làm tăng mức độ tự tin của các nhà sản xuất. Mức độ lạc quan đã tăng so với tháng 10 và trở thành mức cao nhất kể từ tháng 2/2016.

Có những dấu hiệu cho thấy năng lực sản xuất chịu áp lực trở lại khi lượng công việc tồn đọng đã tăng lần đầu tiên trong sáu tháng và là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 8/2017.

Các công ty đã đáp ứng khối lượng công việc tăng bằng cách nhanh chóng tuyển thêm nhân viên. Trên thực tế, tốc độ tạo việc làm là mức cao nhất trong lịch sử chỉ số sau khi vượt qua mức kỷ lục ghi nhận trong tháng 6.

Các nhà sản xuất đã tăng tồn kho cả hàng hóa đầu vào và hàng thành phẩm với tốc độ kỷ lục khi các công ty đáp ứng số lượng đơn đặt hàng mới tăng và chẩn bị cho khả năng tiếp tục tăng doanh thu trong những tháng tới. Việc tăng hàng tồn kho trước sản xuất đã được hỗ trợ bởi hoạt động mua hàng tăng nhanh đáng kể.

Giá nguyên vật liệu đã làm chi phí đầu vào tiếp tục tăng trong tháng 11 và đây là mức tăng đáng kể nhất trong ba tháng. Gánh nặng chi phí tăng đã làm các nhà sản xuất tăng giá bán hàng lần đầu tiên trong ba tháng.

Một số thành viên nhóm khảo sát cho biết tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu đã góp phần làm tăng giá cả đầu vào, với các vấn đề về nguồn cung đã làm các công ty phải kéo dài thời gian giao hàng hóa đầu vào.

Tuy nhiên, các nhà sản xuất khác lại cho biết các nhà cung cấp đã chuẩn bị tốt và đã giảm thời gian giao hàng. Nhìn chung, thời gian giao hàng của người bán hàng gần như không thay đổi.

Bình luận về dữ liệu khảo sát PMI ngành sản xuất Việt Nam, Andrew Harker, Phó Giám đốc tại IHS Markit - công ty thu thập kết quả khảo sát - nói: “Lĩnh vực sản xuất Việt Nam tiếp tục chống lại những dấu hiệu chậm lại của nhu cầu ở đâu đó trên thế giới trong tháng 11 khi số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh và nhanh, và sản lượng tăng gần bằng mức kỷ lục. Hơn nữa, các công ty tin tưởng rằng tin vui sẽ tiếp tục, do đó họ gia tăng hàng tồn kho và tuyển thêm nhân công với tốc độ nhanh nhất trong gần tám năm của lịch sử chỉ số tính đến thời điểm này”.

Trong khi đó tại khu vực ASEAN, chỉ số PMI toàn phần của khu vực chỉ tăng từ 49,8 điểm trong tháng 10 lên 50,4 điểm trong tháng 11, báo hiệu sức khỏe lĩnh vực sản xuất có một chút cải thiện.

Dữ liệu mới nhất cho thấy tăng trưởng ngành sản xuất ASEAN tăng trở lại ở mức khiêm tốn sau khi tháng 10 có sự suy giảm lần đầu trong mười tháng. Sản lượng trong tháng 11 đã tăng nhanh nhất kể từ tháng 6, với năm trong bảy quốc gia khảo sát có sự cải thiện về sản lượng.

Số lượng đơn đặt hàng mới tăng nhẹ, mặc dù đây là sự cải thiện so với mức giảm trong tháng 10. Trong khi đó, doanh thu xuất khẩu đã giảm tháng thứ tư liên tiếp, mặc dù chỉ là giảm nhẹ. Chỉ có một số quốc gia có các điều kiện hoạt động cải thiện nhanh hơn trong tháng 11, và Việt Nam có kết quả hoạt động tốt nhất.

Đáng kể là, lĩnh vực sản xuất của Việt Nam có sản lượng tăng nhanh nhất trong hơn bảy năm. Philippines đứng vị trí thứ hai với tốc độ tăng mạnh tương tự như tháng 10. Myanmar tiến lên vị trí thứ ba khi áp lực lạm phát giảm đã cho phép lĩnh vực sản xuất tăng trở lại sau khi giảm trong tháng 10. Indonesia trượt về vị trí thứ tư khi tăng trưởng chậm lại thành mức thấp của năm tháng.

Thái lan vẫn ở vị trí thứ năm khi có các điều kiện hoạt động giảm nhẹ trong tháng 11. Lĩnh vực sản xuất Malaysia đã suy giảm với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 5. Singapore vẫn đứng cuối bảng xếp hạng, mặc dù các điều kiện đã xấu đi với tốc độ chậm hơn so với tháng 10.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.255 23.345 26.117 26.587 29.984 29.448 199,16 206,20
BIDV 23.240 23.330 26.221 26.584 29.068 29.528 202,74 206,23
VietinBank 23.251 23.351 26.072 26.577 28.926 29.486 202,86 206,61
Agribank 23.230 23.320 26.239 26.591 29.105 29.545 20279 206,28
Eximbank 23.240 23.340 26.241 26.592 29.180 29.571 203,54 206,26
ACB 23.260 23.340 26.244 26.582 29.247 29.550 203,60 206,22
Sacombank 23.262 23.354 26.287 26.651 29.253 29.608 203,63 206,68
Techcombank 23.235 23.345 25.994 26.715 28.856 29.684 202,19 207,45
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.187 26.645 29.234 29.645 202,91 206,59
DongA Bank 23.260 23.340 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580