13:41 | 07/01/2019

Tăng trưởng tín dụng 14% là phù hợp với bối cảnh hiện nay

Đó là nhận định được Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng chia sẻ tại buổi Họp báo triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2019 tổ chức sáng ngày 7/1/2019.

Tín dụng cuối năm: Tăng theo “lập trình”, hay tùy biến?
Sức ép tăng trưởng tín dụng giảm
Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng chủ trì buổi họp báo - Ảnh: ĐK

Lãi suất, tỷ giá tiếp tục ổn định

Thông tin về tình hình tăng trưởng tín dụng, tại buổi họp báo, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Hà Thu Giang cho biết, trên cơ sở bám sát chủ trương của Quốc hội, Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 10/01/2018 điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng có hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; kiểm soát quy mô tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng và linh hoạt điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn, đi kèm với việc đảm bảo an toàn chất lượng tín dụng, kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng đối với một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Nhờ vậy, tín dụng tập trung cho các ngành sản xuất, kinh doanh là động lực của tăng trưởng kinh tế tiếp tục tăng trưởng tích cực. Cụ thể, tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng cuối năm 2018 tăng 12,1%, trong đó tín dụng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có tỷ trọng lớn nhất (16%) trên tổng dư nợ toàn nền kinh tế với mức tăng 13,2%. Tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên tăng khá như tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng khoảng 15,5% chiếm 24% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Lý giải thêm việc tín dụng tăng thấp hơn mục tiêu 17% đề ra từ đầu năm, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho hay, để hỗ trợ cho tăng trưởng thì nguồn vốn cho nền kinh tế có nhiều nguồn như ngân sách, vốn nước ngoài nhưng kênh tín dụng ngân hàng vẫn là chủ đạo. Năm 2018, NHNN xác định tín dụng chỉ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt mức tăng chung, trong đó có tín dụng bất động sản, tín dụng tiêu dùng. “Mức tăng 14% là phù hợp với bối cảnh hiện nay khi mà quy mô tín dụng của Việt Nam đã trên 130/GDP. Đây là mức mà nhiều tổ chức quốc tế khi đánh giá xếp hạng tín nhiệm Việt Nam đã khuyến cáo”, Phó Thống đốc cho biết thêm.

Đông đảo phóng viên tham dự buổi họp báo - Ảnh: ĐK

Về điều hành chính sách tiền tệ, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Phạm Thanh Hà cho biết, trong năm 2018, NHNN đã thực hiện đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, góp phần kiểm soát lạm phát ở mức 3,54% (là năm thứ 5 liên tiếp lạm phát được kiểm soát ở mức dưới 4%) và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt 7,08% - cao nhất trong 11 năm trở lại đây. Đến cuối năm 2018, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 12,5% so với cuối năm 2017.

“NHNN điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền tệ, tập trung điều tiết và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản cho các TCTD. Theo đó, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất chào mua OMO từ 5%/năm xuống còn 4,75%/năm để góp phần giảm chi phí vốn cho TCTD. Mặt bằng lãi suất của các TCTD năm 2018 về cơ bản ổn định, lãi suất cho vay phổ biến khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn, trung - dài hạn khoảng 9-11%/năm. Tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, thông suốt, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối”, ông Hà chia sẻ thêm về kết quả điều hành chính sách lãi suất, tỷ giá.

Tiếp nối thành công đối với điều hành chính sách tiền tệ nói riêng, hệ thống Ngân hàng nói chung trong năm 2018, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng chia sẻ, định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2019 tiếp tục bám sát trên cơ sở các mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ và đánh giá kinh tế vĩ mô, tiền tệ.

Theo đó, năm 2019, NHNN điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu bình quân dưới 4%; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Trong đó, NHNN tiếp tục tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm trong năm 2019. Cụ thể, NHNN bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế, điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng, đồng bộ các công cụ CSTT nhằm ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng theo định hướng đề ra. Lãi suất, tỷ giá tiếp tục được điều hành phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, đồng thời kết hợp đồng bộ các công cụ CSTT, biện pháp can thiệp thị trường ngoại tệ khi cần thiết để ổn định thị trường ngoại tệ.

Về tín dụng sẽ điều hành phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng. NHNN sẽ thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với từng TCTD từ đầu năm trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh. Trong đó, ưu tiên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn đối với TCTD thực hiện trước thời hạn các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016.

NHNN sẽ chỉ đạo các TCTD nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, chứng khoán…; tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án BOT, BT giao thông, tín dụng tiêu dùng. Kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ và có lộ trình phù hợp giảm dần cho vay bằng ngoại tệ.

Quyết tâm đưa nợ xấu nội bảng của TCTD ở mức dưới 2%

Tại buổi họp báo, lãnh đạo NHNN cho biết, ước tính đến cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD là 1,89% giảm so với mức 2,46% cuối năm 2016 và mức 1,99% cuối năm 2017. 

Cũng theo NHNN, trong công tác tái cơ cấu các TCTD gắn với xử lý nợ xấu, mặc dù thời gian triển khai chưa dài nhưng Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu và Quyết định 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 đã đi vào cuộc sống, tạo được nhiều chuyển biến tích cực. "Nghị quyết 42 và Quyết định 1058 thể hiện sự thống nhất về quan điểm, sự quan tâm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và NHNN nhằm tháo gỡ khó khăn trong tái cơ cấu hệ thống TCTD và xử lý nợ xấu, lành mạnh hoá hệ thống, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế", NHNN nhận định.

Qua hơn 1 năm triển khai Quyết định 1058, năng lực tài chính của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức bộ máy kiểm tra, giám sát ở tất cả các cấp từng bước được kiện toàn, ngăn ngừa xung đột lợi ích; tình trạng sở hữu chéo được giảm thiểu. Tính minh bạch trong hoạt động tín dụng cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần quan trọng giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD. Công tác thanh tra, giám sát được tăng cường đã góp phần ngăn chặn, phát biện và xử lý kiên quyết các rủi ro, tồn tại và sai phạm của TCTD, thúc đẩy các TCTD triển khai tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu có hiệu quả. 

Mục tiêu cụ thể đối với xử lý nợ xấu được Phó Chánh Thanh tra giám sát ngân hàng Trần Đăng Phi cho hay, đến cuối năm 2019, phấn đấu tỷ lệ nợ xấu nội bảng của TCTD ở mức dưới 2% và nợ xấu với nợ tiềm ẩn rủi ro dưới 5%. Để đạt mục tiêu trên NHNN tiếp tục triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Đồng thời, kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thị trường; hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD. Việc xử lý nợ xấu phải gắn với việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các TCTD; phát huy vai trò của VAMC trong việc xử lý nợ xấu để bảo đảm duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững...

Tuy nhiên, vấn đề xử lý nợ xấu không chỉ đơn thuần từ phía ngân hàng mà liên quan đến nhiều bộ ngành khác. Vì vậy, để đẩy nhanh xử lý nợ xấu, ông Phi cho biết, NHNN sẽ trình Chính phủ một số nội dung cụ thể liên quan đến sự phối hợp với các Bộ, ngành khác trong công tác xử lý nợ xấu trong thời gian tới.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.450
38.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.450
38.700
Vàng SJC 5c
38.450
38.720
Vàng nhẫn 9999
38.430
38.930
Vàng nữ trang 9999
37.900
38.700