14:00 | 05/11/2018

Trần lãi suất

Thống đốc nhận định: Việc áp dụng trần lãi suất là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Khi hệ thống TCTD hoạt động tốt hơn, an toàn lành mạnh hơn NHNN sẽ xem xét dỡ bỏ biện pháp hành chính không cần thiết.

Trần lãi suất giữ ổn định thị trường tiền tệ, neo được tâm lý kỳ vọng lạm phát
Bỏ trần lãi suất: Cân nhắc đến ổn định kinh tế vĩ mô
Khó có thể áp dụng trần lãi suất với vay tiêu dùng

Sự kiện nổi bật nhất tuần qua là phiên chất vấn kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV kéo dài ba ngày (từ ngày 30/10 đến 1/11/2018). Phiên chất vấn lần này được đánh giá là thẳng thắn, cởi mở, đầy trách nhiệm của những người đứng đầu các bộ, ngành. Đã có 135 đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi, 82 lượt tranh luận; 19 Bộ trưởng, hai phó Thủ tướng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước trực tiếp trả lời chất vấn.

Ảnh minh họa

Với vai trò xương sống của nền kinh tế, ngành Ngân hàng tiếp tục nhận được sự quan tâm của cử tri về các vấn đề: phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, lãi suất và quản lý thị trường ngoại hối. Nội dung trả lời đi thẳng vào vấn đề, dẫn chứng bằng những con số cụ thể, từ hoạt động thực tiễn… của “Tư lệnh” ngành Ngân hàng đã hoàn toàn thuyết phục được nghị trường.

Đáng chú ý, nội dung trả lời của Thống đốc về việc áp trần lãi suất huy động không chỉ được các cử tri quan tâm mà chính các NHTM - những người trong cuộc, cũng có được định hướng trong hoạt động kinh doanh tới đây. Vì sao NHNN tiếp tục duy trì chính sách trần lãi suất huy động đối với các kỳ hạn dưới 6 tháng từ năm 2011 đến nay?

Theo Thống đốc Lê Minh Hưng, việc áp dụng trần lãi suất có cơ sở thực tiễn. Hiện hệ thống ngân hàng vẫn là kênh chủ lực cung ứng vốn cho nền kinh tế nên việc sử dụng một cách có chọn lọc với liều lượng và thời điểm phù hợp những biện pháp hành chính vẫn còn cần thiết để đảm bảo an toàn thị trường tiền tệ.

Bối cảnh thực tế hiện nay cho thấy, tình hình kinh tế, chính trị thế giới đã và đang có những diễn biến phức tạp, tác động không nhỏ đến  mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát của Việt Nam. Việc điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, thận trọng, kiên định với mục tiêu đề ra của NHNN với sự đồng thuận, nghiêm túc trong thực thi các chính sách của TCTD đã góp phần quan trọng trong thành tựu chung về kinh tế mà chúng ta đã đạt được trong thời gian qua. Để đạt được thành tựu chung đó, các TCTD phải có những hy sinh nhất định, đơn cử như về lãi suất.

Ngành Ngân hàng đang thực hiện đồng thời đa mục tiêu: kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; đồng thời phải tái cơ cấu, tiếp tục củng cố “sức khỏe” hệ thống để có thể vừa đối phó với biến động môi trường kinh doanh, vừa tiếp tục vươn lên, khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và khu vực. Việc lãi suất huy động thời gian qua tăng có tác động từ chính quá trình thực hiện các mục tiêu trên.

Đơn cử, sức ép lạm phát tăng cộng với việc NHNN bán ngoại tệ can thiệp thị trường - một lượng tiền đồng không nhỏ được thu về đã khiến thanh khoản của các TCTD không còn xông xênh như trước. Thêm vào đó các TCTD còn phải cơ cấu lại nguồn vốn để đáp ứng quy định về an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHNN (tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn sẽ giảm về 40% từ tháng 1/2019). Để thu hút vốn các NHTM phải từng bước nâng lãi suất huy động, nhưng lãi suất cho vay thì vẫn được giữ ổn định. Chính sách trần lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng (hiện là 5,5%/năm) của NHNN đang phát huy tác dụng, tạo chốt chặn an toàn cho thị trường. Vì thực tế “sức khỏe” của các TCTD khác nhau, song cho dù có khó khăn do phải thực hiện đa mục tiêu TCTD vẫn tuân thủ quy định, nhờ đó thị trường lãi suất ổn định, giữ được sự ổn định chung của thị trường tiền tệ.

Theo thống kê của NHNN, thời điểm cuối tháng 10/2018, mặt bằng lãi suất huy động VND phổ biến ở mức 0,6-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3%-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3-6,5%/năm kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5-7,3%/năm. Lãi suất cho vay bằng VND phổ biến ở mức 6,0-9,0%/năm đối với ngắn hạn; 9,0-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Thống đốc nhận định: Việc áp dụng trần lãi suất là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Khi hệ thống TCTD hoạt động tốt hơn, an toàn lành mạnh hơn NHNN sẽ xem xét dỡ bỏ biện pháp hành chính không cần thiết.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.380 26.325 26.799 29.491 29.963 202,65 211,15
BIDV 23.290 23.380 26.319 26.690 29.511 29.980 204,51 208,03
VietinBank 23.295 23.395 26.299 26.804 29.462 30.022 204,37 209,12
Agribank 23.285 23.375 26.311 26.664 29.265 29.970 204,50 207,98
Eximbank 23.290 23.390 26.336 26688 29.613 30.009 205,14 207,88
ACB 23.300 23.380 26.347 26.686 29.701 30.008 205,21 207,85
Sacombank 23.307 23.399 26.396 26.757 29.706 30.068 205,24 208,31
Techcombank 23.270 23.380 26.074 26.794 29.279 30.108 203,89 209,18
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.275 26.734 29.640 30.056 204,88 208,57
DongA Bank 23.310 23.390 26.380 26.680 29.640 30.990 203,90 207,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.430
36.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.430
36.590
Vàng SJC 5c
36.430
36.610
Vàng nhẫn 9999
34.810
35.210
Vàng nữ trang 9999
34.460
35.160