09:06 | 11/10/2019

Vốn ngân hàng làm “bệ đỡ” cho hợp tác xã

Nhờ vốn ngân hàng, nhiều phụ nữ nghèo và đối tượng chính sách thôn Tuấn Tú, xã An Hải, huyện Bình Phước, tỉnh Ninh Thuận đã mạnh dạn đi đầu cùng nhau liên kết sản xuất hình thành Hợp tác xã (HTX) Tuấn Tú vào tháng 6/2016. 

Tổng kết 15 năm đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác
HTX phi nông nghiệp: Đóng góp chưa tương xứng

Với mức vốn góp 3 triệu đồng/thành viên, từ 13 thành viên ban đầu, đến nay HTX đã phát triển lên 63 thành viên và tất cả đều là khách hàng vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH). Cùng nhau liên kết sản xuất, họ đã chuyển đổi 20 ha rau xanh sang trồng măng tây công nghệ cao, cho năng suất cao gấp 1,5 lần so với hình thức canh tác truyền thống trước đây.

Chị Châu Thị Ân - Tổ trưởng tổ tiết kiệm vay vốn NHCSXH, cũng là người vay và thành viên của HTX nhớ lại, trước đây chị phải mất gần chục năm từ 2008 đến cuối 2016 để vay vốn chăn nuôi thoát nghèo. Song chỉ với việc chuyển đổi trồng măng tây từ năm 2017, 3 sào măng tây cho một năm 8 tháng thu hoạch với lãi ròng bình quân 1 triệu đồng/ngày, đời sống gia đình chị đã cải thiện nhanh chóng chỉ trong 2 năm trở lại đây. Nhờ măng tây mà riêng năm 2018, toàn thôn có 20 hộ thoát nghèo.

Cũng tìm tới ngân hàng trong tâm thế “cực chẳng đã”, song các thành viên của HTX dịch vụ nông nghiệp Nhân Lý, tỉnh Vĩnh Phúc đã có một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục. Nhớ lại những ngày đầu thành lập, bà Lê Thị Hương, Chủ tịch HĐQT HTX dịch vụ nông nghiệp Nhân Lý cho biết, thời điểm đó lao động trẻ tại địa phương kéo nhau vào khu công nghiệp tìm việc bởi thu nhập cao hơn, chỉ còn lại những người ở lứa tuổi 45-50 không có ai nhận thì ở lại bám lấy ruộng đồng để sản xuất.

Tuy nhiên, nhận thấy sức người có hạn, các thành viên đã vay ngân hàng để góp vốn rồi mạnh dạn đầu tư sản xuất theo hình thức cơ giới hoá khép kín, gieo mạ bằng máy. Đến mùa tiếp theo tiếp tục vay vốn ngân hàng đầu tư mua máy cấy, máy phay đất, máy gieo mạ khay, máy gieo hạt… để mở rộng sản xuất. Nhận thấy hiệu quả của mô hình, từ năm 2006 đến nay nhiều hộ đã huy động vốn tự có hoặc tiếp tục vay ngân hàng để góp vốn cùng làm.

Những ghi nhận từ thực tế cho thấy, dù số lượng HTX tiếp cận được vốn ngân hàng theo số liệu thống kê còn rất hạn chế, song nguồn tín dụng này đã sớm len lỏi vào nhiều HTX từ khi còn trong quá trình thai nghén, để rồi nuôi lớn và hình thành hàng trăm mô hình hoạt động hiệu quả.

Đây chỉ là 1 trong 3 nguồn vốn chính cho phát triển hợp tác xã. Theo ước tính, hiện chưa đến 20% các HTX có khả năng tự lực vốn. Nguồn vốn mà các HTX trông đợi nhất từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX lại chưa thể khơi thông. Mặc dù Luật Hợp tác xã được ban hành từ năm 2012, song cho đến thời điểm hiện nay kinh phí hỗ trợ riêng từ ngân sách cho mô hình này vẫn chưa có.

Phải đến tận tháng 8/2017, Chính phủ mới ban hành Quyết định số 23 thay thế Quyết định 246 năm 2006 về thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX. Việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn khiến quá trình triển khai hỗ trợ vốn trên thực tế còn rất chậm, làm hạn chế khả năng tiếp cận vốn của quỹ. Hiện nay nguồn lực ngân sách cho phát triển HTX mới chỉ được lồng ghép trong nguồn kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, hoặc kế hoạch đầu tư công trung hạn. Tính đến cuối năm 2018, Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX trung ương mới đạt 400 tỷ đồng.

Trong bối cảnh đó, nếu không có những nguồn cung vốn kịp thời từ phía ngân hàng, chắc chắn tỷ lệ HTX hoạt động hiệu quả khó có thể đạt tới con số 57% như thống kê mới đây của Liên minh HTX. Bên cạnh đó, việc ban hành một số văn bản hướng dẫn Luật Hợp tác xã năm 2012 tiếp tục chậm trễ, kéo dài cũng gây nên những khó khăn khác cho hoạt động của HTX, chẳng hạn giải quyết nợ đọng, cơ chế tiếp cận đất đai...

Những nút thắt này cũng đang là rào cản khiến các HTX, đặt biệt là HTX nông nghiệp khó tiếp cận vốn vay ngân hàng để mở rộng sản xuất, bởi mục tiêu sản xuất, năng lực của các mô hình còn chưa rõ ràng, chưa có phương án kinh doanh hiệu quả. Ngoài ra, lĩnh vực hoạt động của HTX không thể thu hồi vốn nhanh như các lĩnh vực khác, khiến ngân hàng không thể bất chấp các yếu tố rủi ro để cho vay.

Những khó khăn nội tại đeo đẳng trong suốt nhiều năm qua đang khiến cho việc tiếp cận nguồn vốn phục vụ cho sản xuất đã khó càng thêm khó. Vì vậy, vẫn cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, trước mắt cần khẩn trương hoàn thiện việc ban hành những văn bản hướng dẫn Luật Hợp tác xã còn nợ đọng để luật đi vào cuộc sống. Đồng thời cũng cần có các chính sách để nâng cao năng lực của các HTX, đảm bảo cho nguồn vốn vay được sử dụng hiệu quả.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590