14:38 | 07/09/2019

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới

Sáng 7/9/2019, tại TP. Tam Kỳ (Quảng Nam), Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia phối hợp UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Điểm sáng trong bức tranh nông thôn mới
Để mỗi làng quê là một nơi đáng sống
Miền núi phía Bắc tập trung vào xây dựng thôn, bản nông thôn mới

Tham dự hội nghị có hơn 500 đại biểu đến từ các bộ, ban, ngành trung ương và 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có tổng diện tích 98.895km2, dân số hơn 15 triệu người, có 1.424 xã thực hiện xây dựng nông thôn mới. Tính đến tháng 8/2019, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có 604/1.424 xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Toàn cảnh hội nghị

Cụ thể, Duyên hải Nam Trung Bộ có 378/825 xã (45,82%) đạt chuẩn nông thôn mới; dự kiến đến hết năm 2020 có khả năng đạt tỷ lệ 60% (hoàn thành mục tiêu được Thủ tướng Chính phủ giao). Đến nay, đã có 4/8 tỉnh, thành phố đạt và vượt mục tiêu phấn đấu đến 2020 được Thủ tướng Chính phủ giao gồm Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận

Trong khi đó, ở khu vực Tây Nguyên có 226/599 xã (37,73%) đạt chuẩn nông thôn mới; dự kiến đến hết năm 2020 có khả năng đạt tỷ lệ 43% (hoàn thành mục tiêu Thủ tướng Chính phủ giao). Đến nay, đã có 2/5 tỉnh vượt mục tiêu phấn đấu đến 2020 Thủ tướng Chính phủ giao gồm Đắk Nông, Lâm Đồng.

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sau 9 năm thực hiện Chương trình nông thôn mới, các địa phương trong khu vực đã ưu tiên nguồn lực đầu tư để xây dựng mới, nâng cấp, góp phần thay đổi đáng kể diện mạo nông thôn, bước đầu cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của người dân... Tổng nguồn vốn huy động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới từ 2010-2019 của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đạt khoảng 364.585 tỷ đồng (khoảng 17,23% so với cả nước).

Góp sức xây dựng nông thôn mới, ngành Ngân hàng trên địa bàn đã có nhiều nỗ lực. Trong đó, NHNN chi nhánh các tỉnh, thành trong khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã chủ động phối hợp với các sở, ngành trên địa bàn tham mưu UBND tỉnh, thành hướng dẫn triển khai thực hiện các Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của NHNN Việt Nam về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cho vay xây dựng nông thôn mới, cho vay tiêu dùng, phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần hạn chế và đẩy lùi tình trạng tín dụng đen.

Bên cạnh đó, NHNN các chi nhánh trên địa bàn tăng cường chỉ đạo các TCTD trên địa bàn, đặc biệt là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) chủ động, ưu tiên tập trung vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, nông thôn mới để tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân ở khu vực nông thôn... góp phần đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.

Sản phẩm nông sản của các địa phương được trưng bày tại hội nghị

Về phía các TCTD ở khu vực cũng đã công khai, minh bạch quy trình, thủ tục cho vay nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng vay vốn; tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, liên kết với nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, lãi suất cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ở mức thấp nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân, hộ gia đình ở khu vực nông thôn tiếp cận được nguồn vốn phát triển sản xuất kinh doanh; góp phần xây dựng các tiêu chí về “kinh tế và tổ chức sản xuất”; Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, góp phần thực hiện thành công chương trình nông thôn mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được tại hội nghị, các đại biểu cũng cho rằng trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Trong đó, kết quả xây dựng nông thôn mới mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, nhưng còn khoảng cách chênh lệch khá lớn so với các vùng, miền và thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Trên bình diện chung, xây dựng nông thôn mới của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên còn thiếu chiều sâu, thiếu toàn diện, mới chỉ tạo được điểm sáng ở một số nơi, tính lan tỏa, nhân rộng các mô hình điển hình chưa nhiều. Một số địa phương chưa phát huy hết lợi thế về nguồn lực đất đai, tài nguyên để khai thác, hỗ trợ cho phong trào xây dựng nông thôn mới...

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.650
41.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.650
41.950
Vàng SJC 5c
41.650
41.970
Vàng nhẫn 9999
41.630
42.080
Vàng nữ trang 9999
41.150
41.950