11:55 | 09/01/2019

World Bank bi quan hơn về tăng trưởng toàn cầu

Năm ngoái, Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã cảnh báo về sự suy giảm kinh tế trên toàn cầu trong năm 2019, nhưng những dự đoán mới đây cho thấy tổ chức này có vẻ còn bi quan hơn.

Trong một báo cáo dài 200 trang được công bố hôm thứ Ba, World Bank đã hạ thấp kỳ vọng tăng trưởng toàn cầu trong năm nay xuống mức 2,9% so với dự báo trước đó là 3%. Đồng thời, cũng hạ dự báo tăng trưởng năm 2020 từ 2,9% xuống 2,8%.

Nguyên nhân, theo World Bank, là do tăng trưởng tại các thị trường mới nổi đang trở nên đình trệ hơn vì giao dịch thương mại sụt giảm và tài chính khó khăn.

 

Việc đưa ra dự báo bi quan hơn cũng được World Bank lý giải là do có nhiều biểu hiện cho thấy kinh tế toàn cầu xuống dốc đột ngột kể từ dự báo cuối cùng vào tháng Sáu cũng của tổ chức này.

“Tình hình có thể xấu đi hơn nữa”, đó là những lo ngại của Phố Wall về năm tới, cùng với đó là khó khăn đối với các công ty Mỹ có hoạt động kinh doanh quan trọng ở nước ngoài.

"Rủi ro giảm giá đã trở nên gay gắt hơn", theo đánh giá của nhóm thực hiện báo cáo. "Thị trường tài chính phát triển không ổn định có thể làm gián đoạn hoạt động tại các nền kinh tế bị ảnh hưởng và dẫn đến hiệu ứng lây lan. Bên cạnh đó, tranh chấp thương mại có thể leo thang hoặc trở nên phổ biến hơn, ảnh hưởng đến hoạt động của các nền kinh tế liên quan và lan tỏa tiêu cực toàn cầu."

Mỹ vẫn là một trong những nền kinh tế hoạt động tốt trên thế giới, nhưng tăng trưởng của quốc gia này có thể sẽ sớm dừng lại, vì những tác động tích tực của việc cắt giảm thuế giảm đi và "kỷ nguyên" tiền vay rẻ đang xa dần khi Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất.

Mặc dù suy thoái kinh tế rõ ràng chưa phải là vấn đề lớn với Mỹ, nhưng môi trường chính trị đầy biến động và gánh nặng nợ nần mới thực sự đáng lo ngại.

"Sự lộn xộn trong chính sách ở Mỹ sẽ chuyển từ mở rộng sang thắt chặt lại trong thời gian tới; các chính sách tiền tệ, tài chính và thương mại đều được dự đoán sẽ trở thành lực cản trong vài năm tới", theo các nhà phân tích của World Bank. "Tuy nhiên trong bối cảnh này, những cú sốc tiêu cực tương đối nhỏ cũng có khả năng đột ngột chấm dứt sự mở rộng quy mô kinh tế hiện tại."

Nhưng, những tác động của suy giảm kinh tế có lẽ còn tồi tệ hơn đối với các nước thu nhập thấp, nhiều nước trong số đó đã không thể tăng thu nhập bình quân đầu người đủ để tiếp tục thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.

Mặc dù nghèo đói tuyệt đối đã giảm ở những nơi như Ấn Độ, nhưng đã bị đình trệ ở khu vực châu Phi - cận Sahara, nơi mà các dự án của World Bank dự kiến sẽ tiếp cận tới 87% người nghèo vào năm 2030.

Để giữ cho nền kinh tế toàn cầu ổn định, World Bank khuyến nghị các nước nên đầu tư nhiều hơn vào việc phát triển kỹ năng của người dân, giảm bớt các hạn chế đầu tư lớn và giảm các rào cản thương mại với các đối tác.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.410 25.857 26.612 28.944 29.408 207,92 216,10
BIDV 23.285 23.405 25.981 26.721 28.926 29.421 212,44 217,81
VietinBank 23.265 23.395 25.776 26.711 28.845 29.485 212,88 219,38
Agribank 23.290 23.380 25.942 26.338 29.052 29.530 212,14 215,99
Eximbank 23.270 23.380 25.987 26.346 28.984 29.384 213,58 216,52
ACB 23.260 23.380 25.996 26.353 29.070 29.396 213,63 216,56
Sacombank 23.244 23.397 25.999 26.455 29.066 29.472 212,57 217,12
Techcombank 23.275 23.415 25.766 26.628 28.696 29.571 212,25 219,53
LienVietPostBank 23.280 23.400 25.932 26.412 29.064 29.494 212,95 216,90
DongA Bank 23.290 23.380 26.040 26.340 29.020 29.380 210,20 216,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
37.450
37.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
37.450
37.650
Vàng SJC 5c
37.450
37.670
Vàng nhẫn 9999
37.470
37.870
Vàng nữ trang 9999
37.050
37.650