Agribank chủ động vượt khó cùng khách hàng

08:55 | 05/01/2022

Trong năm 2021, Agribank đã tích cực, tiên phong triển khai nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ khách hàng và công tác an sinh

Dịch bệnh Covid-19 với những diễn biến phức tạp đã khiến hoạt động sản xuất bị đình trệ, chuỗi cung ứng đứt gãy, sức mua giảm mạnh, đời sống nhân dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trước muôn vàn khó khăn, thử thách, Agribank vẫn khẳng định được vị thế, vai trò của một NHTM hàng đầu Việt Nam, đi đầu thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng; luôn đồng hành cùng sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tiên phong thực hiện có hiệu quả các chương trình an sinh xã hội, đặc biệt là chung tay, chia sẻ cùng Chính phủ và cộng đồng trong việc phòng, chống, đẩy lùi dịch Covid-19.

Khắc phục khó khăn nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, Agribank đã và đang quyết liệt cùng Chính phủ, NHNN triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm hiện thực hóa “mục tiêu kép” vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế, góp phần đưa sản xuất, kinh doanh hồi phục nhanh sau dịch bệnh. Tính từ đầu năm 2020 đến nay, Agribank đã thực hiện hàng loạt các biện pháp kinh tế và hoạt động an sinh xã hội, sẵn sàng cắt giảm chi phí hoạt động tối đa và chia sẻ lợi nhuận để hỗ trợ cho khách hàng và cộng đồng đang gặp khó khăn do dịch bệnh.

agribank chu dong vuot kho cung khach hang
Trong năm 2021, Agribank đã tích cực, tiên phong triển khai nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ khách hàng và công tác an sinh

Chủ tịch HĐTV Agribank Phạm Đức Ấn cho biết, trong bối cảnh dịch Covid-19 gây nên sự đứt gãy nghiêm trọng đối với các chuỗi sản xuất kinh doanh và làm giảm tốc độ phát triển của nền kinh tế, Agribank bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, kịp thời ban hành các chính sách hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng Covid-19 và nhiều chương trình giảm lãi, giảm phí góp phần hỗ trợ khách hàng khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo đó, ngân hàng đã giảm lãi cho gần 3,2 triệu khách hàng, với tổng số tiền lãi đã giảm là hơn 5.200 tỷ đồng, là ngân hàng đứng đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giảm lãi lớn để hỗ trợ khách hàng. Thực hiện Thông tư 01/2020/TT-NHNN của NHNN và các Thông tư sửa đổi, bổ sung của NHNN, với dư nợ bị ảnh hưởng bởi Covid-19, Agribank đã thực hiện cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, phí với tổng số tiền là 48.118 tỷ đồng. Trong đó, cơ cấu lại nợ cả gốc và lãi là 45.397 tỷ đồng với 15.920 khách hàng; miễn, giảm lãi 2.800 tỷ đồng với 181.000 khách hàng.

Dòng vốn tín dụng của Agribank tiếp tục được tập trung vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên; tăng trưởng tín dụng xanh, năng lượng sạch, ứng dụng công nghệ cao. Agribank tiếp tục tiên phong, chủ động triển khai có hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách, 2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Qua đó, tiếp tục đưa nguồn vốn tín dụng đến khu vực nông nghiệp, nông thôn, giúp người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn tài chính cần thiết, nâng cao đời sống và phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần tích cực đẩy lùi nạn tín dụng đen. Dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của Agribank đến thời điểm hiện tại đạt 901.255 tỷ đồng, chiếm 68,5%/tổng dư nợ và chiếm gần 50% tổng dư nợ cho vay lĩnh vực này của toàn hệ thống ngân hàng, tiếp tục duy trì phù hợp với mục tiêu đề ra (65%-70%), góp phần quan trọng để lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn không ngừng phát triển, tạo thế và lực mới cho vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Ngoài ra, Agribank còn triển khai đồng loạt các chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi, bao gồm: tăng gấp đôi hạn mức chương trình hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 với quy mô 100.000 tỷ đồng, mức lãi suất, phí hỗ trợ tối đa 2,5%/năm. Đồng thời, Agribank cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa quy mô 30.000 tỷ đồng, hỗ trợ mức phí tối đa 2%; cho vay ưu đãi đối với khách hàng xuất nhập khẩu quy mô 15.000 tỷ đồng và 300 triệu USD; cho vay khách hàng lớn quy mô 15.000 tỷ đồng; cho vay khách hàng tiêu dùng quy mô 20.000 tỷ đồng. Agribank là ngân hàng duy nhất thực hiện miễn, giảm lãi cho toàn bộ khách hàng trên hệ thống. Ngân hàng cũng tiên phong thực hiện chính sách miễn, giảm một số loại phí dịch vụ như miễn 100% phí dịch vụ chuyển tiền trong nước; 100% phí chuyển đổi thẻ từ sang thẻ chip nội địa; giảm phí rút tiền tại ATM qua Napas.

agribank chu dong vuot kho cung khach hang

Riêng trong năm 2021, Agribank đã tích cực, tiên phong triển khai nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ khách hàng và công tác an sinh, xã hội: chủ động cắt giảm chi phí hoạt động 10%, giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng và giảm, miễn phí dịch vụ thanh toán với tổng mức giảm khoảng 6.500 tỷ đồng cùng với 500 tỷ đồng tài trợ cho công tác an sinh xã hội và phòng, chống Covid-19. “Ngoài ra, với tinh thần chia sẻ trong khó khăn, người lao động của Agribank đã đồng thuận không nhận tiền hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp góp phần dành nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19”, ông Ấn thông tin thêm.

Ông Ấn cũng cho biết, Agribank đã hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2021. Tăng trưởng phù hợp theo kế hoạch, đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu vay vốn của khách hàng và hoạt động kinh doanh của Agribank, tiếp tục giữ vững thị phần đứng đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong đó, tổng tài sản đạt 1.680 ngàn tỷ, tăng 7,3%, huy động vốn đạt 1.563 ngàn tỷ, tăng 7,5%; tín dụng đạt 1.316 ngàn tỷ, tăng 8,5% so với năm 2020, hoàn thành mục tiêu kế hoạch (tăng tối đa 8,5%).

Vượt qua mọi thách thức, vững vàng vươn lên trong khó khăn, những kết quả trên chính là minh chứng cho sức mạnh nội lực của Agribank, là sự kết tinh của sức sáng tạo, quá trình phấn đấu bền bỉ, không ngừng nghỉ, sự đoàn kết, đồng thuận, kỷ cương, đổi mới tư duy, ý thức trách nhiệm, thái độ đến tác phong đối với công việc của tập thể cán bộ lãnh đạo, người lao động trên toàn hệ thống Agrribank. Kiên trì, nỗ lực, cố gắng, thích ứng nhanh, chủ động, vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế, quyết tâm hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đặt ra. Đó là nền móng quan trọng để Agribank tiếp tục có sự bứt phá trong thực hiện mục tiêu vừa phòng, chống dịch bệnh vừa hoạt động kinh doanh, phát triển kinh tế bền vững. Năm 2021 là năm Agribank thay đổi toàn diện mô hình tổ chức để hướng theo quản trị, điều hành của ngân hàng thương mại hiện đại, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin hướng đến ngân hàng số.

Năm 2022, tiếp tục là năm có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2021-2025. Dự báo tình hình quốc tế, trong nước có những thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn do tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, với những kết quả đạt được trong những năm qua, trong thời gian tới, Agribank sẽ tiếp tục giữ vững tốc độ phát triển vững chắc trong năm 2021 và các nước tiếp theo, sẵn sàng vượt qua mọi thử thách, khẳng định sức mạnh nội lực và vị thế của Agribank trong toàn Ngành.

Toàn hệ thống tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới sáng tạo, lấy khoa học công nghệ làm khâu đột phá, đổi mới mô hình quản trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, kinh doanh an toàn, hiệu quả; phấn đấu đưa Agribank đạt Top 100 Ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về quy mô tài sản, hướng đến ngân hàng số trong bối cảnh CMCN 4.0 và kinh tế số ngày càng phát triển mạnh mẽ; xây dựng Agribank hiện đại, hội nhập, giữ vững vị trí chủ lực trên thị trường tài chính nông nghiệp, nông thôn với hình ảnh ngân hàng hiện đại, đổi mới, năng động, chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ hàng đầu.

Để tạo điều kiện cho ngân hàng hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu kinh doanh, bên cạnh đề xuất, bổ sung vốn điều lệ, ông Phạm Đức Ấn bày tỏ mong muốn được gỡ khó về quy định chi nhánh phụ thuộc chi nhánh. Ông Ấn cho hay, theo Luật Doanh nghiệp hiện hành, không quy định mô hình chi nhánh trực thuộc chi nhánh trong doanh nghiệp. Quy định này không phù hợp thực tiễn mạng lưới rộng lớn của Agribank với 768 chi nhánh tại các huyện, thị xã, đang trực thuộc chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nếu chuyển về trực thuộc Trụ sở chính sẽ quá tải trong công tác quản lý, giám sát của Trụ sở chính. “Để Agribank tiếp tục được duy trì mô hình chi nhánh trực thuộc chi nhánh như hiện nay nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu tín dụng và tiện ích ngân hàng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và yêu cầu chính trị của Đảng, Nhà nước, ngân hàng mong muốn NHNN nghiên cứu trình Chính phủ, Quốc hội luật hóa nội dung này vào Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp hoặc quy định đặc thù cho NHTM như Agribank”, ông Ấn đề xuất.

Anh Minh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400