Agribank: Xung lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững

09:09 | 09/01/2020

Năm 2019 ghi nhận sự phát triển đầy ấn tượng của hệ thống ngân hàng Việt Nam, trong đó có Agribank với những đóng góp ý nghĩa và tích cực trong việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt 7,02%, là một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trong khu vực và thế giới. 

Agribank mua lại toàn bộ các khoản nợ đã bán cho VAMC
Agribank: Đồng hành với các mô hình phát triển kinh tế
Agribank đã triển khai chương trình tín dụng tiêu dùng đạt trên 7.400 tỷ đồng với 193.000 hộ gia đình, cá nhân được bổ sung vốn

Điểm nhấn trong bức tranh kinh tế 

Phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, trong những thành quả đạt được của nền kinh tế có sự đóng góp quan trọng của NHNN và hệ thống các NHTM...

Trong đó, Thủ tướng đánh giá cao NHNN thực hiện tốt việc phối hợp chính sách tiền tệ với các chính sách khác, giúp vừa đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, vừa có mặt bằng lãi suất giảm, vừa kiểm soát được lạm phát. Các NHTM lớn không chỉ cung ứng nguồn vốn lớn cho nền kinh tế còn tích cực tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu quyết liệt, hiệu quả. Agribank là một trong những NHTM lớn nhận được sự đánh giá cao của Thủ tướng. 

Có thể nói, năm 2019 tiếp tục là năm thành công của Agribank trong giai đoạn tái cơ cấu 2016 - 2020 khi kết thúc năm, Agribank hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kinh doanh được NHNN giao như tăng cường năng lực tài chính, kiểm soát, nâng cao chất lượng tài sản, đặc biệt là chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu. Tăng trưởng tín dụng được kiểm soát phù hợp với mục tiêu đề ra. Nguồn vốn huy động tăng trưởng đảm bảo an toàn thanh khoản. Các mục tiêu phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 đến nay cơ bản đã hoàn thành trước hạn và sẵn sàng cho việc cổ phần hóa.

Lãnh đạo Agribank cho biết, thành công của kết quả tái cơ cấu giai đoạn I (2013- 2015) với việc tập trung xử lý nợ xấu, cải tổ lại bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh phát triển dịch vụ… đã giúp Agribank có nền tảng thuận lợi và những kinh nghiệm thực tiễn để đẩy nhanh tái cơ cấu giai đoạn 2 (2016-2020), cũng là giai đoạn ngân hàng thực hiện Chiến lược kinh doanh gắn với xử lý nợ xấu và quá trình cổ phần hóa.

Có được kết quả tái cơ cấu khả quan như vậy là nhờ nền tảng hoạt động kinh doanh ngày càng vững chắc của Agribank. Năm 2019, hoạt động trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế đan xen những thuận lợi cũng như đối mặt nhiều khó khăn, nhưng Agribank bám sát chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, NHNN Việt Nam, cũng như quyết liệt triển khai đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp phù hợp, hoạt động kinh doanh tiếp tục tăng trưởng tốt và ngân hàng hoàn thành vượt mức kế hoạch về chỉ tiêu lợi nhuận.

Tổng tài sản đạt trên 1,45 triệu tỷ đồng. Nguồn vốn huy động tiếp tục tăng đạt trên 1,34 triệu tỷ đồng, tạo “bệ phóng” vững chắc để Agribank cung ứng một lượng vốn lớn cho nền kinh tế. Đến cuối năm 2019, tổng dư nợ và đầu tư đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng, trong đó cho vay nền kinh tế đạt trên 1,12 triệu tỷ đồng.

Đáng chú ý, nhờ chú trọng đầu tư phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đồng thời khai thác hiệu quả mạng lưới khách hàng lớn, ngân hàng được bổ sung một nguồn thu từ dịch vụ tương đối lớn đạt gần 6.700 tỷ đồng, củng cố lợi nhuận ngày càng bền vững. Điểm nhấn nữa là con số thu nợ sau xử lý nợ xấu của Agribank đạt trên 12.000 tỷ đồng, và ngân hàng hoàn thành việc mua lại trước hạn toàn bộ các khoản nợ đã bán cho VAMC. Agribank được đánh giá là ngân hàng có kết quả xử lý nợ xấu tốt nhất hệ thống TCTD và rút ngắn lộ trình sớm hơn 2 năm trong việc xử lý nợ xấu.

Với kết quả kinh doanh ấn tượng trong năm 2019, Agribank tiếp tục được khẳng định vị trí Quán quân các NHTM được vinh danh vị trí thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500; thuộc Top 20 trong danh sách xếp hạng 1000 Doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam; “Ngân hàng hỗ trợ đầu tư nông nghiệp công nghệ cao tiêu biểu năm 2019”, “Ngân hàng tiêu biểu vì cộng đồng năm 2019”…

Trụ cột của khu vực “tam nông”

Agribank luôn khẳng định sự kiên định của một thương hiệu gắn với sứ mệnh nông nghiệp, nông dân, nông thôn, minh chứng là nguồn vốn Agribank chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ gần 2 triệu tỷ đồng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam. Agribank tiên phong, chủ lực triển khai hiệu quả 7 chương trình tín dụng chính sách và 2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Từ đầu năm 2019, Agribank đã cho vay hỗ trợ thu mua lúa gạo doanh số đạt trên 7.000 tỷ đồng chiếm 40% doanh số cho vay của toàn ngành; cho vay ngành chăn nuôi lợn 25.000 tỷ đồng, hỗ trợ người chăn nuôi lợn bị thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi. Riêng cho vay xây dựng nông thôn mới, Agribank đã triển khai đến 100% số xã trên cả nước, có đóng góp rất tích cực đối với thành công vượt bậc của thành quả xây dựng nông thôn mới nước ta khi 53-54% số xã và 110 huyện đạt chuẩn NTM, hoàn thành trước thời hạn gần 2 năm. 

Bên cạnh việc thực hiện cho vay theo chủ trương của Chính phủ, để tạo thuận lợi, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay và sử dụng dịch vụ ngân hàng, trong năm 2019, Agribank 2 lần chủ động giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng và các lĩnh vực ưu tiên, các chương trình tín dụng chính sách. Hiện nay lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên của Agribank thấp hơn trần quy định của NHNN thể hiện sự quyết tâm của Agribank trong việc tiên phong, nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN về điều hành lãi suất, thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ khách hàng, đưa tín dụng ngân hàng tiếp tục phát huy vai trò thúc đẩy, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế đất nước.

Qua đó khẳng định, Agribank là một trong những NHTM Nhà nước đóng vai trò chủ lực về quy mô thị phần, khả năng điều tiết thị trường, giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực tín dụng nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam.

Thực hiện chủ trương đẩy lùi tín dụng đen theo Chỉ thị số 12 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1178 của Thống đốc NHNN, Agribank đã triển khai chương trình tín dụng tiêu dùng, đến nay doanh số cho vay chương trình đạt trên 7.400 tỷ đồng với 193.000 hộ gia đình, cá nhân được bổ sung vốn phục vụ nhu cầu hợp pháp và cấp thiết, nâng cao đời sống của người dân tại các địa bàn nông thôn…

Bên cạnh đó, ngân hàng kết hợp với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ các cấp… thành lập tổ vay vốn. Đến nay đã có trên 71.000 tổ vay vốn với gần 1,5 triệu thành viên và 68 Điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng được triển khai an toàn với gần 8.200 phiên giao dịch, phục vụ gần 800 nghìn khách hàng tại trên 400 xã trên toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi đối với hộ gia đình, cá nhân ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận vốn vay và dịch vụ ngân hàng, đáp ứng nhu cầu hợp pháp và cấp thiết của hộ gia đình, cá nhân tại các địa bàn nông thôn như cho vay chữa bệnh... 

Chưa dừng lại ở đó, xác định lấy khách hàng là trọng tâm, Agribank luôn trăn trở làm sao để gia tăng khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các cá nhân, gia đình vừa sử dụng các dịch vụ thanh toán văn minh, hiện đại trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. Từ mong muốn đó, song song với các giải pháp đang thực hiện, Agribank triển khai Đề án đẩy mạnh phát triển dịch vụ thẻ tại thị trường nông nghiệp, nông thôn. Thông qua Đề án này, Agribank mong muốn đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, chung tay cùng các cấp, các ngành góp phần đẩy lùi tình trạng tín dụng đen. 

Nỗ lực trên đã được Thủ tướng Chính phủ ghi nhận. Người đứng đầu Chính phủ đánh giá cao hệ thống ngân hàng, nhất là Agribank và Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam đã tích cực góp phần đẩy lùi tình trạng tín dụng đen. “Đây là một dấu ấn năm 2019”, Thủ tướng nhấn mạnh và bày tỏ hy vọng, các ngân hàng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, với phương châm dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tín dụng ngân hàng trong thời gian ngắn nhất, chi phí thấp nhất. 

Giai đoạn 2020- 2025, Agribank xác định mục tiêu tập trung tối đa mọi nguồn lực thực hiện cổ phần hóa và hoàn thành toàn diện các mục tiêu tái cơ cấu giai đoạn II. Trong đó chú trọng tăng trưởng tín dụng gắn với chuyển đổi cơ cấu; nâng cao năng lực tài chính đảm bảo an toàn trong hoạt động. Đảm bảo tuân thủ quy định của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn và áp dụng các chuẩn mực Basel II, nâng cao chất lượng dịch vụ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sắp xếp mạng lưới, hoàn thiện mô hình tổ chức, nhân sự nhằm tăng hiệu quả hoạt động…

Với những kết quả đạt được cùng quyết tâm đưa ngân hàng ngày càng phát triển vững mạnh, Agribank tin tưởng sẽ tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, NHNN giao phó đặc biệt là sự tin tưởng của hàng triệu người nông dân Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp dành cho Agribank trong suốt hơn 3 thập kỷ.

Viết Chung

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850