BIDV nỗ lực, linh hoạt trong thực hiện mục tiêu 2020

08:33 | 09/03/2020

Tính đến cuối năm 2019, tổng tài sản BIDV đạt 1.489.957 tỷ đồng, tăng trưởng 13,5% so với năm 2018 - là NHTMCP có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam; tổng nguồn vốn huy động năm 2019 đạt 1.374.765 tỷ đồng; Tổng dư nợ tín dụng và đầu tư đạt 1.325.737 tỷ đồng, trong đó, dư nợ tín dụng đạt 1.134.503 tỷ đồng, tăng trưởng 12,2% so với năm 2018, chiếm 13,8% thị phần tín dụng toàn Ngành.

BID dự kiến tăng vốn điều lệ lên trên 45.500 tỷ đồng trong năm nay
BIDV hỗ trợ gói tín dụng cho DN bị ảnh hưởng bởi Covid-19

Đúng theo kế hoạch, BIDV là ngân hàng đầu tiên tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2020 ngày 7/3/2020. Công tác phòng chống dịch Covid-19 được triển khai chặt chẽ tại địa điểm tổ chức đại hội. Đại hội đã thông qua các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh năm 2020 thấp hơn so với 2019. Song theo ông Phan Đức Tú - Chủ tịch HĐQT BIDV đây là kịch bản lạc quan nhất và có thể điều chỉnh theo điều kiện thực tế bởi diễn biến dịch bệnh ngày càng phức tạp.  

Nhìn lại năm 2019, với phương châm hoạt động “Kỷ cương - Trách nhiệm - Hiệu quả - Bứt phá”, BIDV đã hoàn thành cơ bản, toàn diện các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh. Tính đến cuối năm tổng tài sản BIDV đạt 1.489.957 tỷ đồng, tăng trưởng 13,5% so với năm 2018 - là NHTMCP có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam; tổng nguồn vốn huy động năm 2019 đạt 1.374.765 tỷ đồng; Tổng dư nợ tín dụng và đầu tư đạt 1.325.737 tỷ đồng, trong đó, dư nợ tín dụng đạt 1.134.503 tỷ đồng, tăng trưởng 12,2% so với năm 2018, chiếm 13,8% thị phần tín dụng toàn Ngành. Đến cuối năm 2019, BIDV còn 9.312 tỷ đồng trái phiếu đặc biệt của VAMC, nhưng đã trích dự phòng 6.300 tỷ. Đầu năm nay, BIDV đã mua lại toàn bộ trái phiếu VAMC.

Ngày 7/3, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2020

Về hiệu quả hoạt động, thu dịch vụ ròng của BIDV đạt 6.038 tỷ đồng, tăng trưởng 14,2% so với năm 2018, trong đó ghi nhận mức tăng tốt từ các dòng dịch vụ bán lẻ, ngân hàng hiện đại như thu dịch vụ thẻ, dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng điện tử… Năm 2019, BIDV có chênh lệch thu chi tiếp tục dẫn đầu khối NHTM, đạt 30.864 tỷ đồng, tăng trưởng 9,3% so với năm trước; Lợi nhuận trước thuế hợp nhất toàn hệ thống đạt 10.732 tỷ đồng, hoàn thành 104% kế hoạch ĐHĐCĐ giao... ROA đạt 0,6%, ROE đạt 13,7%. Năm 2019 BIDV nộp ngân sách nhà nước 8.550 tỷ đồng; thực hiện chi trả cổ tức 2 năm 2017-2018 bằng tiền mặt với tổng giá trị 4.560 tỷ đồng, tỷ lệ chi trả đạt 7%/năm.

Đến cuối năm 2019, thị giá cổ phiếu BID tăng trưởng 42,5% so với đầu năm; tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại BIDV tăng lên 18,03%. Giá trị vốn hóa thị trường của BIDV cuối năm 2019 đạt 186.000 tỷ đồng, đứng thứ 6 trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Xác định năm 2020 là có ý nghĩa quan trọng: năm hoàn thành Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu theo tinh thần Nghị quyết 42 của Quốc hội và Quyết định số 1058/QĐ-TTg của Chính phủ, năm đầu thực hiện chiến lược phát triển đến 2025 và tầm nhìn đến 2030, toàn hệ thống BIDV sẽ triển khai quyết liệt, mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp, biện pháp thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ, gia tăng chất lượng hoạt động, hiệu quả kinh doanh; tạo điều kiện và phục vụ tốt mọi nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng của nền kinh tế.

BIDV cũng sẽ duy trì tăng trưởng bền vững, có chất lượng; củng cố vị trí dẫn đầu trên các phân khúc thị trường chủ đạo, chú trọng khách hàng bán lẻ, khách hàng SME; triển khai mạnh mẽ chiến lược ngân hàng số, phát triển kênh bán hàng điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt; đẩy mạnh mô hình kinh doanh đa dịch vụ, nâng cao năng lực quản trị theo các tiêu chuẩn quốc tế... Ông Phan Đức Tú - Chủ tịch HĐQT ngân hàng cho biết, theo đề nghị của BIDV, ngày 27/2/2020 NHNN đã phê duyệt lại phương án cơ cấu lại TCTD của BIDV theo hướng tích cực hơn.

Cụ thể năm 2020, ngân hàng dự kiến tăng trưởng huy động vốn phù hợp với sử dụng vốn, dự kiến tăng trưởng 9%; Tín dụng tăng trưởng theo kế hoạch của NHNN hiện nay là 9%; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 12.500 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu kiểm soát thấp hơn 1,7%; tỷ lệ chi trả cổ tức dự kiến 7%. Tuy nhiên theo ông Phan Đức Tú, đây là kịch bản tích cực nhất khi chưa tính đến tác động của dịch bệnh Covid-19. Do đó ngân hàng sẽ nỗ lực hoàn thành kế hoạch được ĐHĐCĐ giao, nhưng theo hướng linh hoạt, có thể sẽ điều chỉnh các chỉ tiêu trong trường hợp cần thiết...

Trên thực tế, dịch Covid-19 bùng phát đang đẩy nền kinh tế nói chung, hệ thống ngân hàng nói riêng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Trước những tác động xấu của Covid-19 BIDV đã chủ động báo cáo NHNN, xây dựng các biện pháp phòng chống dịch, các chính sách hỗ trợ khách hàng. Ngân hàng đã triển khai khảo sát đánh giá nhu cầu của khách hàng, phân loại các nhóm nhu cầu khách hàng.

Lãnh đạo BIDV cho biết, trong gói tín dụng hỗ trợ các khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19 khoảng 285.000 tỷ đồng, riêng BIDV đã đăng ký hỗ trợ tới 120.000 tỷ đồng. Với tình hình này, chưa ai dự đoán được sẽ như thế nào, và có thể sẽ phức tạp hơn hiện tại. BIDV đã đưa ra 8 ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất. Khách hàng có nhu cầu vay sẽ được tiếp cận gói hỗ trợ tín dụng theo chủ trương của Chính phủ, chỉ đạo của NHNN. Khách hàng muốn giãn nợ thì sẽ được giãn nợ và có thể được giảm lãi. Bên cạnh đó, để đảm bảo an toàn hoạt động, BIDV tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, tăng cường thúc đẩy giao dịch online, khuyến khích người dân giao dịch nhưng không phải đến ngân hàng…

Tại đại hội, HĐQT ngân hàng đã trình cổ đông phương án tăng vốn điều lệ lên 46.450 tỷ và bầu hai thành viên HĐQT là ông Lê Kim Hoà - Phó TGĐ BIDV và ông Trần Xuân Hoàng - Phó TGĐ BIDV giữ chức vụ thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2017-2022. Với sự bổ sung này, HĐQT BIDV gồm 10 thành viên, trong đó có một thành viên là người nước ngoài.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530