Biến thể Delta khiến nhiều người Mỹ mất thu nhập

07:09 | 22/09/2021

Khi biến thể Delta của virus SARS-CoV-2 đi qua Hoa Kỳ, nó đã gây ảnh hưởng nặng nề đến thu nhập của người dân Mỹ.

Trong báo cáo mới đây của Morning Consult, biến thể Delta đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến tiền lương hoặc tổn thất thu nhập mà chưa được hiển thị trong dữ liệu yêu cầu về bảo hiểm thất nghiệp.

Kết quả trên có được theo Công cụ theo dõi khoản phải trả/thu nhập bị mất hàng tuần, đo lường tỷ lệ người trưởng thành ở Mỹ hiện đang lâm vào tình trạng giảm lương, giảm thu nhập và trong khi đó vẫn phải trả các khoản lỗ.

bien the delta khien nhieu nguoi my mat thu nhap
Ảnh minh họa

Công cụ theo dõi được thiết lập vào tháng 4/2020 và dựa trên bảng hỏi đáp thống kê của 20 nghìn người trưởng thành xem họ có đang bị mất tiền lương hay thu nhập mỗi tuần hay không? Các kết quả mới nhất cho thấy tình trạng căng thẳng tài chính đang gia tăng trong số người lao động. Ngày 11/9, tỷ lệ báo cáo bị mất lương hoặc thu nhập đã tăng lên 13%. Con số này tăng từ mức thấp nhất của đại dịch là 11,4% vào ngày 14/8.

Những người có nhiều khả năng bị ảnh hưởng tài chính nhất là những người làm việc trong các ngành dịch vụ. Công nhân ngành thực phẩm và đồ uống bị thiệt hại về lương hoặc giảm thu nhập ở mức 25,7%. Những người làm công việc giải trí và khách sạn cũng đang rơi và tình trạng tương tự với mức 19,5%.

Theo công bố vào trung tuần tháng 9 vừa qua cho thấy, con số thất nghiệp hàng tuần đã tăng lên 332 nghìn (tăng 20 nghìn so với tuần trước). Trong khi đó, báo cáo việc làm tháng 8 được công bố vào đầu tháng này cho thấy chỉ có 235 nghìn vị trí được bổ sung, so với kỳ vọng là 720 nghìn.

Sự sụt giảm thu nhập mới nhất này xảy ra khi trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp liên bang nâng cao đã kết thúc vào đầu tháng này. Mặc dù việc kiểm tra hàng tuần hiện không còn được thực hiện, nhưng một số người trước đây đủ điều kiện, chẳng hạn như nhân viên hợp đồng, cũng không còn có thể nộp đơn yêu cầu nữa.

Theo Wheeler, nếu các dấu hiệu về sự trì trệ của thị trường lao động vẫn tiếp diễn, điều đó có thể ảnh hưởng đến chính sách của Cục Dự trữ Liên bang, đặc biệt là với thời điểm lên kế hoạch giảm bớt việc mua tài sản.

Hơn 6 triệu hộ gia đình vẫn phải trả tiền thuê nhà và con số có khả năng trở nên tồi tệ hơn vào cuối năm, bất chấp việc Quốc hội đã phân bổ nguồn tài chính chưa từng có cho những người thuê nhà gặp khó. Khoản viện trợ trị giá 45 tỷ USD đã diễn ra rất chậm chạp, thậm chí một số hộ gia đình còn khó tiếp cận với khoản viện trợ này. Đến cuối tháng 8, chỉ có khoảng 5 tỷ USD đã được giải ngân, mặc dù khoản tài trợ đã được phê duyệt trong các gói kích cầu được thông qua vào tháng 12/2021 và sau đó là tháng 3/2022. Có chưa đến 1 triệu hộ gia đình đã được giúp đỡ.

Ngay cả khi điều tồi tệ nhất của đại dịch đã ở sau lưng người dân Mỹ và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, nhiều người thuê nhà vẫn sẽ không thể thanh toán khoản nợ của họ cho đến khi họ nhận được viện trợ liên bang.

Theo dữ liệu của Surgo Ventures, một tổ chức phi lợi nhuận tập trung vào sức khỏe và dữ liệu, khoản nợ trung bình ở Maryland, nơi gần 19% người thuê nhà tiếp tục phải chịu số nợ là hơn 4.500 USD, trong khi đó ở California, nơi 15% tỷ lệ người thuê nhà tiếp tục phải chịu số nợ là gần 5.200 USD.

Hải Thanh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.658 22.870 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.644 22.854 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200