Các ngân hàng Trung Quốc giảm lãi suất tiền gửi

06:56 | 04/10/2022

Một loạt các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ của Trung Quốc vừa tuyên bố giảm lãi suất tiền gửi.

Chẳng hạn theo một tuyên bố trên trang web của Ngân hàng Nam Kinh, ngân hàng này đã giảm lãi suất tiền gửi 3 tháng 5 điểm cơ bản xuống còn 1,35%; giảm lãi suất tiền gửi 1 năm 15 điểm cơ bản xuống 1,75% và giảm lãi suất tiền gửi 5 năm 20 điểm xuống 2,90%.

Trong khi một số ngân hàng quốc doanh lớn đã đi trước một bước khi đã thực hiện cắt giảm lãi suất tiền gửi từ đầu tháng 9 vừa qua. Đây là làn sóng cắt giảm lãi suất trên diện rộng đầu tiên kể từ năm 2015.

cac ngan hang trung quoc giam lai suat tien gui
Ảnh minh họa

Làn sóng này xảy ra sau khi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) giảm lãi suất cho vay cơ bản (LPR) vào ngày 22/8. Theo đó LPR 1 năm được giảm 5 điểm cơ bản từ 3,7% xuống 3,65% và giảm LPR 5 năm 15 điểm cơ bản xuống 4,3%.

Trước đó, PBoC cũng đã giảm lãi suất cho vay trung hạn 1 năm (MLF) và một công cụ thanh khoản ngắn hạn khác nhằm thúc đẩy nhu cầu tín dụng để vực dậy nền kinh tế đang chậm lại. Tuy nhiên, những nỗ lực này vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn.

Mặc dù nền kinh tế Trung Quốc đã tránh được sự suy giảm vào quý hai trong bối cảnh các biện pháp kiểm soát Covid-19 đã làm gây nhiều tổn hại cho sản xuất và tiêu dùng, cộng thêm và sự lao dốc của thị trường bất động sản. Tuy nhiên các nhà phân tích cho biết, niềm tin kinh doanh và tiêu dùng vẫn rất mong manh. Hệ quả là cầu tín dụng cũng rất yếu.

Theo dữ liệu từ PBoC, dư nợ cho vay mới bằng nhân dân tệ của các ngân hàng Trung Quốc chỉ tăng thêm có 1,25 nghìn tỷ nhân dân tệ (173,78 tỷ USD) trong tháng 8, thấp hơn kỳ vọng của các nhà phân tích, trong khi tăng trưởng tín dụng tổng thể cũng chậm lại.

"Hiện các ngân hàng đang phải đối mặt với vấn đề tương tự như nhau, đó là nhu cầu tín dụng không mạnh", Reuters dẫn lời một nguồn tin xin được giấu tên cho biết. Nguồn tin này cũng nói thêm rằng, có sự thiếu hụt khách hàng để cho vay, điều này khiến cho việc kiểm soát chi phí trở thành một vấn đề đối với các ngân hàng.

Các nhà phân tích và chủ ngân hàng cũng cho biết, việc cắt giảm lãi suất tiền gửi, một nguồn vốn quan trọng của các ngân hàng Trung Quốc, nhấn mạnh những hạn chế của lãi suất đi vay chuẩn trong việc phục hồi nhu cầu vay và tăng trưởng ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, vốn đang gặp rất nhiều khó khăn.

Wang Yifeng - Nhà phân tích của Everbright Securities còn cho rằng, vẫn còn khả năng cho việc cắt giảm lãi suất tiền gửi hơn nữa. Theo nhà phân tích này, chi phí tiền gửi ngân hàng hơi cao khi mà các ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc cho vay nên họ mong muốn nguồn vốn có chi phí thấp hơn.

Trong khi Wang Yudong - nhà phân tích tại Công ty quản lý tài sản Minority thì ví vấn đề mà các ngân hàng Trung Quốc đang gặp phải hiện nay tương tự như đối với các nhà sản xuất. "Nếu giá thành phẩm giảm, bạn cũng cần phải giảm giá mua nguyên liệu thô để bảo vệ lợi nhuận của mình".

Còn Peiqian Liu - Nhà kinh tế Trung Quốc tại Natwest Markets thì lưu ý rằng, việc cắt giảm lãi suất tiền gửi của các ngân hàng thương mại là một phần của cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ sau khi PBoC cắt giảm lãi suất chính sách quan trọng vào tháng 8. "Việc cắt giảm lãi suất này của các ngân hàng thương mại sẽ giúp cải thiện một chút tỷ suất lợi nhuận và về mặt kỹ thuật, mở ra nhiều không gian hơn nữa cho việc cắt giảm lãi suất (cho vay chuẩn)".

Quả vậy bốn trong số năm ngân hàng lớn nhất của Trung Quốc, ngoại trừ Ngân hàng Trung Quốc, đã báo cáo tỷ suất lợi nhuận ròng (NIM) giảm trong quý II. Vào cuối tháng 6, NIM của Ngân hàng Công Thương Trung Quốc chỉ là 2,03%; trong khi với Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc là 2,02%; còn Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc là 2,09%.

Những nhà cho vay nhỏ hơn thậm chí còn báo cáo NIM mỏng hơn. Ví dụ, Bank of Beijing báo cáo tỷ suất lợi nhuận là 1,77% vào cuối tháng 6. NIM của Bank of Qingdao là 1,76% và Bank of Shanghai báo cáo NIM là 1,66%.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750