Các ngân hàng Trung Quốc: Giữ trần lợi nhuận ở mức một con số

08:00 | 22/06/2020

Theo các nguồn thạo tin, các nhà quản lý tài chính của Trung Quốc đang yêu cầu các ngân hàng giữ mức tăng trưởng lợi nhuận dưới 10% trong năm nay để hỗ trợ nền kinh tế đối mặt với nguy cơ suy giảm tồi tệ nhất trong bốn thập kỷ qua.

Trung Quốc sẽ không áp dụng biện pháp kích thích tràn lan hay lãi suất âm
Thương chiến Trung - Úc có thể mạnh đến đâu?
Áp lực từ Mỹ sẽ thúc đẩy thị trường chứng khoán Trung Quốc phát triển

Những nguồn tin yêu cầu dấu tên này cho biết, các nhà quản lý sẽ yêu cầu các ngân hàng hy sinh lợi nhuận bằng cách mở rộng thêm các khoản vay với lãi suất thấp hơn, đồng thời tăng các khoản dự phòng rủi ro cho vay và chủ động trong ghi nhận nợ xấu. Một số chi nhánh của Ủy ban Điều tiết Ngân hàng và Bảo hiểm Trung Quốc (CBIRC) đã bắt đầu liên lạc với các ngân hàng để thống nhất về các vấn đề này, hai người trong số nguồn tin trên thông tin. Hãng tin Bloomberg cho biết, CBIRC hiện chưa có phản hồi bình luận về thông tin trên.

Ảnh minh họa

Nếu thực sự có các yêu cầu như vậy, nó cho thấy những lo ngại về việc liệu Trung Quốc có thể phục hồi nhanh giai đoạn hậu Covid-19. Trong khi các ngân hàng Trung Quốc dường như đã chấp nhận hoạt động kinh doanh sẽ yếu hơn trong năm nay, việc hạn chế kỳ vọng lợi nhuận của họ có thể thúc đẩy các ngân hàng gia tăng các bộ đệm đối với các khoản cho vay trong tương lai (tức là có thể hạn chế cho vay ra). Nó cũng có thể khiến các ngân hàng phải “né” báo cáo về các mức lợi nhuận lớn trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay.

Hệ thống ngân hàng Trung Quốc trị giá 41 nghìn tỷ USD đang đi đầu trong việc hỗ trợ các DN bị tổn thương do sự bùng phát của coronavirus và tác động của nó.  Theo UBS Group AG, trong trường hợp suy giảm nghiêm trọng, với giả định tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 4,8% đến hết năm 2021 thì ngành Ngân hàng nước này có thể phải đối mặt với sự sụt giảm lợi nhuận tới 39% trong năm nay. Và nếu không có các biện pháp hỗ trợ của chính phủ, thu nhập của các ngân hàng thể giảm 70% để hấp thụ làn sóng nợ xấu.

Ngoài ra, các yêu cầu này cũng có thể tiết lộ mức nợ xấu thực sự ở Trung Quốc, mà dữ liệu chính thức cho đến nay mới chỉ tăng nhẹ, ngay cả sau khi trải qua đợt giãn cách xã hội vừa qua khiến nhiều khách hàng vay chịu tác động mạnh. Các nguồn tin trên cho rằng, nếu các yêu cầu này được thực thi thì đối tượng chịu tác động lớn nhất là các ngân hàng có quy mô trung bình. S&P Global ước tính, tỷ lệ nợ xấu có thể tăng lên gần gấp đôi trong năm nay, so với mức trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.079 23.269 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.600
59.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.600
59.850
Vàng SJC 5c
58.600
59.870
Vàng nhẫn 9999
55.150
56.350
Vàng nữ trang 9999
54.750
56.050