Chính sách thuế hỗ trợ thị trường nhà cho thuê

10:06 | 13/12/2021

Từ ngày 1/1/2022, cá nhân cho thuê nhà có doanh thu từ 100 triệu đồng trở xuống không phải đóng thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập cá nhân.

Đây là một trong những sửa đổi quan trọng tại Thông tư 100/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư 40/2021/TT-BTC hướng dẫn về thuế VAT, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ và cá nhân kinh doanh. Giới kinh doanh kỳ vọng quy định này gián tiếp kích thích thị trường mua và sửa chữa nhà cho thuê.

Theo Thông tư 100, cá nhân chỉ có hoạt động cho thuê nhà và thời gian cho thuê không trọn vẹn một năm, nếu có doanh thu cho thuê từ 100 triệu đồng trở xuống không phải nộp VAT và thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp khách hàng trả tiền thuê nhà trước nhiều năm, quy định mới cũng cho phép, mức doanh thu để xác định cá nhân phải nộp thuế hay không phải nộp thuế là doanh thu trả tiền một lần được phân bổ theo năm dương lịch.

chinh sach thue ho tro thi truong nha cho thue
Căn hộ cho thuê thường có một tỷ lệ dư nợ vốn vay ngân hàng khá lớn

Quy định không tính thuế như trên sẽ gián tiếp khuyến khích tăng nhu cầu tín dụng phục vụ đời sống. Theo một công ty quản lý kinh doanh ở TP.HCM, trong bối cảnh kinh tế đang phục hồi và lãi suất ngân hàng ở mức thấp, nhiều người sử dụng vốn tự có và vay thêm vốn ngân hàng mua căn hộ, sửa chữa nhà để cho thuê.

Hiện các ngân hàng cũng triển khai nhiều sản phẩm cho vay đối với nhu cầu mua và sửa chữa nhà với nhiều hình thức linh hoạt, lãi suất hấp dẫn. Trong đó, có thể kể đến Vietcombank hiện đang cho vay cá nhân mua nhà lãi suất 7,29%/năm trong năm đầu, năm thứ hai 8,4%/năm, năm thứ ba 9%/năm; sau đó lãi suất thả nổi lẫy lãi suất tiết kiệm 12 tháng cộng thêm 3,5%/năm để ra lãi suất cho vay thời kỳ tiếp theo.

BIDV cũng đang cho vay lãi suất 6,2%/năm trong 6 tháng đầu kể từ thời điểm giải ngân đầu tiên, đối với những hồ sơ đăng ký thành công qua ứng dụng BIDV Home (khách hàng Hà Nội và TP.HCM) giảm 0,2% lãi suất so với giao dịch tại quầy, các tỉnh thành phố khác áp dụng lãi suất 6,6%/năm (nếu khách vay có tài khoản ngân hàng này được giảm 0,2% lãi suất).

Tại VPBank có chương trình cho vay lãi suất 5,9%/năm cố định 3 tháng, 7,9%/năm trong 6 tháng, 8,3%/năm trong 12 tháng, 8,6%/năm trong 18 tháng hoặc 8,9%/năm trong 24 tháng. Hạn mức cho vay đến 80% giá trị tài sản đảm bảo, hạn mức giải ngân lên đến 20 tỷ đồng và thời hạn vay kéo dài đến 25 năm, ân hạn nợ gốc 12 tháng, có nghĩa trong năm đầu tiên, khách hàng sẽ không phải thanh toán nợ gốc cho ngân hàng mà chỉ cần thanh toán phần lãi.

Techcombank cho vay lãi suất 6,69%/năm trong chu kỳ đầu sau đó lãi suất tính từ 10,5%/năm, thời hạn cho vay lên đến 35 năm. HDBank cho vay mua nhà đến 35 năm, lãi suất 6,6%/năm trong 12 tháng đầu và ân hạn gốc 12 tháng. PVcomBank cho vay mua nhà lãi suất từ 5%/năm…

Các ngân hàng ngoại cũng vào cuộc cho vay mua nhà, như Malaysia Hong Leong Bank hiện đang áp dụng lãi suất 6,19%/năm giảm 0,56% so với tháng 8/2021 áp dụng cho các khoản vay mua nhà từ 400 triệu đồng trở lên, thời gian áp dụng đến hết ngày 31/12/2021. HSBC, Shinhan Bank và BIDV cùng đưa ra mức lãi suất cho vay bình quân khoảng 6,2%/năm. Ngân hàng Singapore UOB có chương trình cho vay mua nhà lãi suất 5,5%/năm kết hợp với sản phẩm UOB HomeStar, người vay vốn hưởng lãi suất 0% cho tối đa 50% dư nợ vay, tương đương chỉ từ 2,75%/năm.

Lãi suất cho vay mua nhà bình quân các ngân hàng hiện có mức dao động khoảng 6,5-7,5%/năm trong giai đoạn đầu mới giải ngân, sau thời gian ưu đãi ngân hàng sẽ áp dụng lãi suất thả nổi. Người có kinh nghiệm vay vốn theo lãi suất thả nổi thường chọn những ngân hàng có lãi suất tiết kiệm thấp để sau thời gian ưu đãi lãi suất, các ngân hàng này sẽ lấy lãi suất huy động cộng thêm 3,5-4,0% để ra mức lãi suất cho vay. Bên cạnh đó những ngân hàng cho vay lãi suất thấp nhất thường sẽ có thêm điều kiện khách hàng phải mua căn hộ hoặc nhà ở trong những dự án ngân hàng bảo lãnh hoặc liên kết đầu tư. Trong khi đó, các ngân hàng ngoại cho vay mua nhà với lãi suất “mềm” thường kèm theo yêu cầu về lịch sử tiền gửi, tiền vay tốt của khách hàng hoặc chủ yếu phục vụ những phân khúc khách hàng mua bất động sản hạng sang.

Tất cả các khoản vay vốn mua và sửa chữa nhà ở hiện nay khách hàng đều được thế chấp bằng chính căn hộ hoặc nhà mua có giấy phép đầy đủ và chứng minh bằng thu nhập khác nhau để chứng minh khả năng trả nợ. Có một điểm mới trong cho vay mua nhà của các ngân hàng gần đây là kỳ hạn khoản vay đã kéo đến 25, 30, 35 năm. Việc kéo dài thời gian cho vay sẽ làm giảm áp lực trả nợ hàng tháng cho bên vay.

Đại dịch Covid-19 tác động vào việc làm và thu nhập của người lao động, trong năm qua các NHTM đã giảm 0,5-1% lãi suất các khoản dư nợ cho vay mua nhà để ở và đang tiếp tục cho vay mới với lãi suất ưu đãi phục vụ đời sống. Theo một lãnh đạo NHNN Việt Nam, ngân hàng luôn kiểm soát chặt tín dụng cho các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro như bất động sản, chứng khoán… nhưng tín dụng cho các phân khúc nhà ở thu nhập thấp, nhà giá rẻ, nhà thương mại phục vụ nhu cầu đời sống vẫn được các tổ chức tín dụng quan tâm cho vay và có tăng trưởng.

Thống đốc NHNN Việt Nam vừa ban hành Quyết định 1956/QĐ/NHNN về mức lãi suất của các NHTM áp dụng trong năm 2022 đối với dư nợ các khoản vay hỗ trợ nhà ở theo quy định tại Thông tư số 11/2013/TT-NHNN, Thông tư số 32/2014/TT-NHNN và Thông tư số 25/2016/TT-NHNN là 4,8%/năm.

Đây là các khoản tín dụng cho vay hỗ trợ nhà ở từ gói 30.000 tỷ đồng, nguồn tái cấp vốn của NHNN theo Nghị quyết 02/NQ-CP về tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu và được 4 NHTM Nhà nước là Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank thực hiện.

Trước đó năm 2020, lãi suất đối với dư nợ của các khoản cho vay hỗ trợ nhà ở là 5%/năm. Tuy nhiên trong năm 2021, theo quyết định của NHNN, lãi suất đã giảm xuống 4,8%/năm để phù hợp với diễn biến tình hình và định hướng điều hành chính sách của NHNN.

Theo các chuyên gia, việc giảm lãi suất cũng giảm bớt tiền lãi trả nợ khoản vay mua nhà ở cho hộ gia đình, người lao động thu nhập thấp, là đối tượng vay gói tín dụng này theo quy định, qua đó giảm bớt khó khăn cho người dân trong điều kiện ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, góp phần thực hiện công tác an sinh xã hội.

Theo NHNN chi nhánh TP.HCM, chương trình cho vay nhà ở theo gói tín dụng 30.000 tỷ đồng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tính đến nay còn 7.157 khách hàng cá nhân và tổ chức có dư nợ khoảng 2.300 tỷ đồng.

Thu Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.050 23.350 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.090 23.310 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.100 23.310 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.062 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.067 23.352 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.080 23.325 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.120 23.310 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.400
69.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.400
69.400
Vàng SJC 5c
68.400
69.420
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750