Tổng Giám đốc HSBC Việt Nam:

Chính sách tiền tệ cần linh hoạt trong năm 2015

09:01 | 20/04/2015

Trả lời phỏng vấn của Thời báo Ngân hàng, ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam nhìn nhận: Nghị định 34 ra đời mang tính quyết định để đưa nợ xấu về mức 3% trong năm 2015.

Ông Phạm Hồng Hải

Nhìn nhận của ông về triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam trong năm nay?

Nhìn bề ngoài, nền kinh tế Việt Nam khởi động năm 2015 với một vị thế mạnh mẽ. Ngành sản xuất đã tăng trưởng 9,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong khi lĩnh vực dịch vụ cũng có mức tăng đáng kể 5,8%. Chỉ số GDP quý I/2015 tăng 6,03% so với năm ngoái. Nhờ vào nhu cầu cao hơn, tăng trưởng tín dụng (TTTD) khối tư nhân trong quý I/2015 cũng đạt mức 15,5% so với cùng kỳ năm ngoái.

Mặc dù nhu cầu trong nước được cải thiện nhưng các điều kiện bên ngoài lại xấu đi, tạo sức ép lên nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu của Việt Nam. Một biểu hiện là xuất khẩu quý I mặc dù vẫn cao so với mức trung bình của khu vực nhưng cũng đã giảm xuống mức 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái (quý I/2014 tăng 12,7%). Các lô hàng xuất khẩu từ các DN trong nước tiếp tục giảm trong quý vừa qua là dấu hiệu không tốt đối với năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam.

Quan trọng là Việt Nam kiên quyết tiến hành cải cách, cải thiện vấn đề phân bổ tín dụng cho những khu vực hoạt động hiệu quả, cụ thể là khu vực kinh tế tư nhân. Tập trung đầu tư cho nguồn lao động có tay nghề cao cũng là một ưu tiên bởi Việt Nam không thể dựa vào tính cạnh tranh từ lao động giá rẻ mãi được. Một điều quan trọng khác là Việt Nam phải có một chiến lược chủ động hỗ trợ các DN trong nước trong việc nâng cao kiến thức về công nghệ, đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ giữa các DN FDI và DN Việt Nam để tối đa hóa lợi ích từ FDI. Không có chiến lược này, khối DN trong nước sẽ tiếp tục hoạt động chưa đạt hiệu suất tối ưu như hiện nay.

Một vấn đề nữa là hiện tại nhu cầu nhập khẩu đang gia tăng, dẫn tới thâm hụt thương mại mở rộng và có khả năng sẽ tạo áp lực lên tỷ giá. Ngoài ra, nếu NHNN mở rộng mục tiêu TTTD lên 17% để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng 6,2% của Chính phủ thì cải cách ngân hàng phải tiến hành nhanh với tốc độ tương ứng để tránh TTTD lại rơi vào những khu vực hoạt động kém hiệu quả.

Bản thân các ngân hàng cũng cần hết sức chủ động trong việc  XLNX

Vậy đâu là những điểm được trong điều hành chính sách tiền tệ và những đề xuất để tiếp tục tăng cường hiệu quả điều hành trong thời gian tới?

Những thành tích nổi bật nhất tạo nền tảng cho ổn định kinh tế vĩ mô bao gồm đồng nội tệ và tỷ giá giữ được ổn định. Thanh khoản thị trường được duy trì khá tốt. Việc tỷ giá được giữ ổn định giúp tạo niềm tin rất lớn của người dân và DN vào VND. Thứ hai là thị trường vàng đã được kiểm soát và hạn chế tác động của vàng lên tỷ giá. Thứ ba là lãi suất giảm cả về mặt huy động lẫn cho vay tạo điều kiện cho mục tiêu năm 2015 tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ DN sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó dự trữ ngoại tệ tăng mạnh giúp tạo tính ổn định trong hệ thống. Lạm phát giảm mạnh. Công tác truyền thông đảm bảo minh bạch về chính sách điều hành với thị trường

NHNN cũng tự đặt mục tiêu chính sách tiền tệ năm 2015 sẽ tập trung phục vụ công tác xử lý nợ xấu (XLNX). Để có thể thực hiện được điều này, việc phân bổ tín dụng cho những khu vực hoạt động hiệu quả là hết sức quan trọng, cụ thể là khu vực kinh tế tư nhân. NHNN có thể làm được điều này thông qua việc tiếp tục và tập trung định hướng lãi suất và chính sách ưu đãi cho những khu vực ưu tiên, hạn chế đầu tư vào những khu vực còn yếu về hiệu quả như bất động sản. Việc kiểm soát TTTD ở mức phù hợp với tăng trưởng kinh tế và phù hợp với các ngành nghề cũng là biện pháp có thể áp dụng.

Nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập rất cao vào kinh tế thế giới được thể hiện qua kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt khoảng 160% GDP. Lạm phát thấp, tăng trưởng chậm và các chính sách tiền tệ đối chọi nhau tạo nên một bức tranh kinh tế hết sức phức tạp của thế giới trong năm 2015. Do đó, chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ cần điều chỉnh linh hoạt phù hợp với tình hình thế giới, đảm bảo tính cạnh tranh của Việt Nam và vẫn duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.

Khuyến nghị của ông về những điểm cần tập trung để đảm bảo việc XLNX thông qua VAMC thực sự hiệu quả?

Nghị định 34 ra đời nhằm sửa đổi bổ sung các quy định của Nghị định số 53 theo hướng tạo sự chủ động, trao quyền hạn phù hợp cho VAMC xử lý nợ, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đã mua, nâng cao tính minh bạch trong hoạt động mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt và mua nợ xấu theo giá thị trường của VAMC.

Với Nghị định 34, NHNN đã tiến thêm một bước trong việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động của VAMC, tăng tính hiệu quả hoạt động của tổ chức này. Tiếp theo đây vẫn còn nhiều việc phải làm như các quy định cụ thể về xử lý bất động sản, chuyển quyền sử dụng bất động sản… nhưng tôi đánh giá Nghị định 34 ra đời mang tính quyết định để đưa nợ xấu về mức 3% trong năm 2015.

Tôi đánh giá cao một số sửa đổi như tăng vốn cho VAMC từ 500 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng, mặc dù con số này cũng chưa phải là lớn để có thể xử lý được con số nợ xấu mấy trăm ngàn tỷ. Bên cạnh đó, VAMC còn được phát hành trái phiếu mua nợ xấu theo giá thị trường, nợ xấu được bán cho tổ chức gồm người không cư trú. Điều này sẽ góp phần mở cánh cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào mua nợ xấu của Việt Nam trong tương lai.

Điều quan trọng là bản thân các ngân hàng cũng cần hết sức chủ động trong việc XLNX vì chúng ta không thể trông chờ hoàn toàn vào VAMC. Nền kinh tế bắt đầu phục hồi cũng là điều kiện thuận lợi để các ngân hàng XLNX nhanh hơn.

Xin cảm ơn ông!

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn:

Tags: HSBC

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.130 23.340 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.165 23.345 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.145 23.335 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.160 23.330 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.150 23..360 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.142 23.342 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.190 23.320 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.520
48.890
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.520
48.870
Vàng SJC 5c
48.520
48.870
Vàng nhẫn 9999
47.520
48.520
Vàng nữ trang 9999
47.520
48.320