Chuyển đổi cây trồng để giảm tổn thất

09:55 | 08/01/2020

Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn như hạn hán, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, giá các mặt hàng nông sản tụt giảm song năm 2019 ngành nông nghiệp Gia Lai vẫn phát triển ổn định, chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa.

Thiệt hại nặng do biến đổi khí hậu

Hiện sản xuất nông nghiệp của Gia Lai được cơ cấu theo hướng đa dạng. Với nhiều nỗ lực của chính quyền và nông dân, hàng ngàn hecta cây trồng kém hiệu quả, rủi ro cao như mía, hồ tiêu được chuyển đổi sang trồng rau, hoa và cây ăn quả; hàng ngàn hecta đất lúa kém hiệu quả cũng được chuyển sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, phù hợp với nhu cầu của thị trường. Địa phương đã từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn trên các loại cây trồng như cà phê, cao su, cây ăn quả, lúa, các loại hoa màu...

Thực tế, trong năm 2019, các loại dịch bệnh đã lây lan và bùng phát trên nhiều loại cây trồng, từ hồ tiêu với các bệnh chết nhanh chết chậm, nhiễm tuyến trùng rễ đến bệnh trên cây mía, cây sắn. Cùng với diện tích hồ tiêu bị thiệt hại, Gia Lai còn có hơn 10.000ha sắn bị nhiễm bệnh khảm lá vi rút, ngô bị sâu keo mùa thu gây hại. Cùng với đó, hàng chục ngàn hecta cây trồng tại các huyện phía Đông và Đông Nam tỉnh như Đăk Bơ, K’Bang, Phú Thiện, Krông Pa, thị xã An Khê… bị ảnh hưởng của hạn hán, thiệt hại khoảng 1.696,7 tỷ đồng; ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người nông dân.

Nông nghiệp là thế mạnh trong phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Gia Lai

Chỉ tính riêng huyện Krông Pa đã có gần 2.103ha sắn bị nhiễm bệnh khảm lá vi rút. Theo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, dịch bệnh trên các loại cây trồng và hạn hán đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng ngàn nông hộ, ngành nông nghiệp địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Có hơn 3.000ha cây trồng bị giảm 30-70% năng suất do không đủ nước tưới.

Các giải pháp phát huy tác dụng

Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh và hạn hán, chính quyền tỉnh Gia Lai đã quyết liệt triển khai các giải pháp hỗ trợ người nông dân khống chế dịch bệnh lây lan và khuyến khích chuyển đổi cây trồng để thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cùng với đó là triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế. Trong đó, tập trung các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Trên cơ sở đó, ngành nông nghiệp Gia Lai hiện thực hóa các giải pháp và đang mang lại hiệu quả tích cực cho người nông dân. Đến nay, Gia Lai đang phát triển sản xuất theo hướng quy mô lớn, hợp tác liên kết theo chuỗi giá trị. Hiện tỉnh có 165 cánh đồng mẫu lớn, với tổng diện tích 8.840ha của 3.607 nông hộ và 8 DN tham gia; có 192 hợp tác xã nông nghiệp; 21 dự án ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; 12.000ha cà phê sản xuất theo tiêu chuẩn 4C; 1.200ha rau, cà phê, hồ tiêu và cây ăn quả sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.

Đặc biệt, nhiều diện tích cây trồng kém hiệu quả đã được người nông dân chuyển đổi thành công sang các mô hình trồng rau, hoa và cây ăn quả. Những năm qua, các mô hình này đóng vai trò tích cực trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, là nhóm cây trồng giàu tiềm năng, lợi thế của địa phương. Cùng với đó, nhu cầu tiêu thụ trong nước và thế giới ngày càng tăng chính là cơ hội và triển vọng cho nông sản của Gia Lai mở rộng thị trường.

Theo UBND tỉnh Gia Lai, mục tiêu chung của ngành nông nghiệp địa phương là phát huy lợi thế để phát triển sản xuất bền vững; tạo sự chuyển biến mạnh về tư duy, phương thức tổ chức sản xuất theo hướng tập trung chuyên canh, thực hành sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, Organic.

Để tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác tái cơ cấu ngành nông nghiệp, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; Tỉnh ủy Gia Lai cũng ban hành nghị quyết về bảo tồn và phát triển cây dược liệu, nghị quyết phát triển sản xuất rau, hoa và cây ăn quả.

Song thực tế, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp của địa phương hiện vẫn còn chậm. Công tác thu hoạch, bảo quản, chế biến chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến tỷ lệ thất thoát, tổn thất sau thu hoạch lớn; Việc xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đối với không ít sản phẩm nông nghiệp còn bất cập. Chính điều này làm hạn chế về sức tiêu thụ các sản phẩm của Gia Lai trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

Vậy nên, các chuyên gia cho rằng, bên cạnh việc tổ chức chuyển đổi cây trồng theo hướng bền vững, chính quyền địa phương cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm nông sản có thế mạnh. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, hình thành các chuỗi giá trị hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp…

Bài và ảnh Chí Thiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000